Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 45/2026/NĐ-CP

Điều 10. Lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư dự án

Căn cứ: Điều 10, 45/2026/NĐ-CP — Nghị định 45/2026/NĐ-CP Quy định quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước

Tóm tắt

Điều 10 Nghị định 45/2026/NĐ-CP quy định việc lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư dự án ứng dụng công nghệ thông tin được thực hiện theo Luật Đầu tư công. Điều này cũng quy định về sơ bộ tổng mức đầu tư hoặc dự kiến tổng mức đầu tư và các phương pháp xác định. Đơn vị được giao lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư có thể tự thực hiện hoặc thuê tổ chức, cá nhân lập.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Việc lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư thực hiện theo Mục 1 Chương II Luật Đầu tư công.
  • ▸Sơ bộ tổng mức đầu tư là ước tính chi phí đầu tư, mua sắm hoặc thuê dịch vụ CNTT của dự án.
  • ▸Sơ bộ tổng mức đầu tư được xác định phù hợp với nội dung báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án nhóm A hoặc báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư dự án nhóm B, C.
  • ▸Phương pháp xác định sơ bộ tổng mức đầu tư: so sánh, chuyên gia, báo giá, kết hợp hoặc căn cứ chiến lược, quy hoạch, chương trình, kế hoạch, đề án được duyệt.
  • ▸Đơn vị được giao lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư tự thực hiện hoặc thuê tổ chức, cá nhân lập.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa sơ bộ tổng mức đầu tư và tổng mức đầu tư.
  • Cho rằng chỉ được sử dụng một phương pháp xác định sơ bộ tổng mức đầu tư duy nhất.

Giải thích

Điều 10 Nghị định 45/2026/NĐ-CP quy định về lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư dự án ứng dụng công nghệ thông tin. Theo đó, các hoạt động này thực hiện theo quy định tại Mục 1 Chương II của Luật Đầu tư công và các văn bản sửa đổi, bổ sung, quy định chi tiết. Điều này cũng quy định về sơ bộ tổng mức đầu tư hoặc dự kiến tổng mức đầu tư (gọi chung là sơ bộ tổng mức đầu tư). Đây là ước tính chi phí để đầu tư, mua sắm (đối với dự án đầu tư hệ thống và dự án mua sắm) hoặc chi phí để thuê dịch vụ công nghệ thông tin (đối với dự án thuê dịch vụ công nghệ thông tin). Sơ bộ tổng mức đầu tư được xác định phù hợp với nội dung của báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án nhóm A hoặc báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư dự án nhóm B, nhóm C. Các phương pháp xác định bao gồm: phương pháp so sánh, phương pháp chuyên gia, theo báo giá, kết hợp các phương pháp hoặc căn cứ theo chiến lược, quy hoạch, chương trình, kế hoạch, đề án được duyệt. Đơn vị được giao lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư dự án có thể tự thực hiện hoặc thuê tổ chức, cá nhân lập.
Nguyên văn Điều 10. Lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư dự án
1. Lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư thực hiện theo quy định tại Mục 1 Chương II của Luật Đầu tư công và các văn bản sửa đổi, bổ sung, quy định chi tiết; sơ bộ tổng mức đầu tư hoặc dự kiến tổng mức đầu tư theo quy định tại khoản 2 Điều này. Đơn vị được giao lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư dự án tự thực hiện hoặc thuê tổ chức, cá nhân lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư. 2. Sơ bộ tổng mức đầu tư hoặc dự kiến tổng mức đầu tư (gọi chung là sơ bộ tổng mức đầu tư) là ước tính chi phí để đầu tư, mua sắm (đối với dự án đầu tư hệ thống và dự án mua sắm), chi phí để thuê dịch vụ công nghệ thông tin (đối với dự án thuê dịch vụ công nghệ thông tin) của dự án được xác định phù hợp với các nội dung của báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án nhóm A, báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư dự án nhóm B, nhóm C. Việc xác định sơ bộ tổng mức đầu tư trong nội dung của báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư dự án thực hiện theo phương pháp so sánh hoặc phương pháp chuyên gia hoặc theo báo giá hoặc kết hợp các phương pháp hoặc căn cứ theo chiến lược, quy hoạch, chương trình, kế hoạch, đề án được duyệt.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.