Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 71/2026/NĐ-CP

Điều 10. Vi phạm quy định về khu vực kiểm soát, khu vực giám sát

Căn cứ: Điều 10, 71/2026/NĐ-CP — Nghị định 71/2026/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử

Tóm tắt

Điều 10 quy định mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm liên quan đến khu vực kiểm soát, khu vực giám sát, bao gồm không trang bị đèn cảnh báo, không niêm yết dấu hiệu/nội quy, không xây dựng quy trình, không giám sát ra vào, sử dụng người chưa đủ 18 tuổi, không chuyển đổi công việc cho nhân viên nữ mang thai, và không thiết lập khu vực. Mức phạt tăng dần tùy hành vi và đặc biệt cao hơn nếu cơ sở là nhà máy điện hạt nhân.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Không trang bị đèn cảnh báo bức xạ hoặc đèn không hoạt động: phạt 1-3 triệu đồng.
  • ▸Các hành vi như không niêm yết dấu hiệu, nội quy, quy trình, không giám sát ra vào, nhân viên vi phạm nội quy, sử dụng người dưới 18 tuổi, không chuyển việc cho thai phụ: phạt 5-10 triệu đồng.
  • ▸Không thiết lập khu vực kiểm soát, khu vực giám sát: phạt 10-20 triệu đồng (trừ trường hợp đã quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 2).
  • ▸Nếu cơ sở là nhà máy điện hạt nhân: hành vi khoản 2 phạt 20-30 triệu; hành vi khoản 3 phạt 35-45 triệu.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa hành vi không niêm yết dấu hiệu cảnh báo (điểm a khoản 2) và không thiết lập khu vực (khoản 3).
  • Bỏ sót trường hợp nhà máy điện hạt nhân có mức phạt riêng cao hơn.
  • Cho rằng hành vi không thiết lập khu vực luôn bị phạt 10-20 triệu, nhưng trừ các trường hợp a, b, c, d khoản 2.

Giải thích

Điều 10 quy định xử phạt vi phạm về khu vực kiểm soát, khu vực giám sát. Có 5 khoản với các mức phạt khác nhau. Khoản 1 phạt 1-3 triệu đồng nếu không trang bị hoặc đèn cảnh báo bức xạ không hoạt động. Khoản 2 phạt 5-10 triệu đồng cho 7 nhóm hành vi: không niêm yết dấu hiệu cảnh báo, không niêm yết nội quy/chỉ dẫn an toàn, không xây dựng/niêm yết quy trình, không giám sát ra vào, nhân viên không thực hiện đầy đủ nội quy/quy trình, sử dụng người chưa đủ 18 tuổi, không chuyển đổi công việc cho nhân viên nữ mang thai. Khoản 3 phạt 10-20 triệu nếu không thiết lập khu vực kiểm soát, khu vực giám sát (trừ trường hợp a,b,c,d khoản 2). Khoản 4 và 5 quy định mức phạt cao hơn nếu cơ sở là nhà máy điện hạt nhân: khoản 2 thành 20-30 triệu, khoản 3 thành 35-45 triệu.
Nguyên văn Điều 10. Vi phạm quy định về khu vực kiểm soát, khu vực giám sát
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không trang bị đèn cảnh báo bức xạ hoặc đèn cảnh báo bức xạ không hoạt động theo quy định. 2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: a) Không niêm yết dấu hiệu cảnh báo bức xạ tại khu vực kiểm soát, khu vực giám sát; b) Không niêm yết nội quy hoặc chỉ dẫn về an toàn bức xạ, bảo vệ bức xạ, an ninh nguồn phóng xạ tại khu vực kiểm soát, khu vực giám sát; c) Không xây dựng quy trình tiến hành công việc bức xạ, không niêm yết quy trình theo quy định; d) Không có biện pháp giám sát việc ra vào khu vực kiểm soát; đ) Có nhân viên bức xạ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nội quy an toàn bức xạ, quy trình tiến hành công việc bức xạ; e) Sử dụng người chưa đủ 18 tuổi tiến hành công việc bức xạ; g) Không chuyển đổi công việc phù hợp để tránh tiếp xúc với bức xạ đối với nhân viên bức xạ nữ đang mang thai khi có nguyện vọng. 3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không thiết lập khu vực kiểm soát, khu vực giám sát theo quy định, trừ trường hợp quy định tại điểm a, điểm b, điểm c, điểm d khoản 2 Điều này. 4. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi quy định tại khoản 2 Điều này trong trường hợp cơ sở hạt nhân là nhà máy điện hạt nhân. 5. Phạt tiền từ 35.000.000 đồng đến 45.000.000 đồng đối với hành vi quy định tại khoản 3 Điều này trong trường hợp cơ sở hạt nhân là nhà máy điện hạt nhân.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.