Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 104/2026/NĐ-CP

Điều 11. Nguyên tắc sử dụng chi thường xuyên thực hiện chuẩn bị, phê duyệt dự án đầu tư công sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi

Căn cứ: Điều 11, 104/2026/NĐ-CP — Nghị định 104/2026/NĐ-CP Quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán chi thường xuyên để thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điều 40 Luật Ngân sách nhà nước

Tóm tắt

Điều 11 nêu các nguyên tắc sử dụng chi thường xuyên cho nhiệm vụ chuẩn bị, phê duyệt dự án đầu tư công sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài: đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả; chỉ thực hiện sau khi nhiệm vụ và dự toán được phê duyệt; ưu tiên sử dụng hỗ trợ của nhà tài trợ và không bố trí ngân sách trùng lặp.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Chi thường xuyên được bố trí và sử dụng đúng mục đích để thực hiện nhiệm vụ chuẩn bị, phê duyệt dự án; bảo đảm phù hợp pháp luật, tiết kiệm, hiệu quả.
  • ▸Chỉ được sử dụng chi thường xuyên sau khi nhiệm vụ và dự toán kinh phí được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
  • ▸Cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng kinh phí đúng nội dung trong phạm vi dự toán được phê duyệt.
  • ▸Ưu tiên sử dụng hỗ trợ của nhà tài trợ nước ngoài để thanh toán các chi phí chuẩn bị, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư công.
  • ▸Khi tiếp nhận viện trợ không hoàn lại hoặc hỗ trợ kỹ thuật, phải tuân thủ pháp luật và thỏa thuận với nhà tài trợ; ngân sách không bố trí cho các nội dung đã được viện trợ hoặc tài trợ.

Lưu ý dễ nhầm

  • Cho rằng có thể sử dụng chi thường xuyên trước khi được phê duyệt nhiệm vụ và dự toán.
  • Bỏ qua nguyên tắc không bố trí ngân sách trùng với nội dung đã được nhà tài trợ viện trợ không hoàn lại hoặc hỗ trợ kỹ thuật.

Giải thích

Điều 11 đặt ra các nguyên tắc sử dụng chi thường xuyên cho nhiệm vụ chuẩn bị, phê duyệt dự án đầu tư công sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài. Chi thường xuyên phải được bố trí và sử dụng đúng mục đích, phù hợp pháp luật, tiết kiệm và hiệu quả. Việc sử dụng chỉ được thực hiện sau khi nhiệm vụ và dự toán kinh phí được cấp có thẩm quyền phê duyệt; cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ phải quản lý, sử dụng kinh phí đúng nội dung trong phạm vi dự toán được phê duyệt. Điều luật cũng ưu tiên sử dụng hỗ trợ của nhà tài trợ nước ngoài để thanh toán các chi phí chuẩn bị, thẩm định, phê duyệt dự án. Trường hợp có viện trợ không hoàn lại hoặc hỗ trợ kỹ thuật, việc tiếp nhận và sử dụng phải tuân thủ pháp luật và thỏa thuận với nhà tài trợ, đồng thời ngân sách sẽ không bố trí cho các nội dung đã được viện trợ hoặc tài trợ.
Nguyên văn Điều 11. Nguyên tắc sử dụng chi thường xuyên thực hiện chuẩn bị, phê duyệt dự án đầu tư công sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài
1. Chi thường xuyên được bố trí và sử dụng đúng mục đích để thực hiện nhiệm vụ chuẩn bị, phê duyệt dự án đầu tư công sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài; bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật và tiết kiệm, hiệu quả. 2. Việc sử dụng chi thường xuyên thực hiện chuẩn bị, phê duyệt dự án đầu tư công sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài chỉ được thực hiện sau khi nhiệm vụ và dự toán kinh phí được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ chuẩn bị, phê duyệt dự án đầu tư công sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài chịu trách nhiệm quản lý và sử dụng kinh phí đúng nội dung trong phạm vi dự toán được phê duyệt. 3. Ưu tiên sử dụng hỗ trợ của nhà tài trợ nước ngoài để thanh toán các chi phí chuẩn bị, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư công. Trường hợp có nguồn viện trợ không hoàn lại hoặc hỗ trợ kỹ thuật của nhà tài trợ cho nhiệm vụ chuẩn bị dự án đầu tư công, việc tiếp nhận và sử dụng khoản hỗ trợ này phải tuân thủ quy định của pháp luật và thỏa thuận với nhà tài trợ nước ngoài; đồng thời kinh phí ngân sách sẽ không bố trí cho các nội dung đã được viện trợ hoặc tài trợ.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.