Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 264/2025/NĐ-CP

Điều 12. Giám sát và đánh giá độc lập

Căn cứ: Điều 12, 264/2025/NĐ-CP — Nghị định 264/2025/NĐ-CP quy định về Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và quỹ đầu tư mạo hiểm của địa phương

Tóm tắt

Hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm phải chịu sự giám sát, đánh giá độc lập về rủi ro, hiệu quả đầu tư, tác động xã hội và thu hút vốn tư nhân. Việc giám sát được thực hiện qua kiểm toán độc lập, kiểm toán nhà nước và thuê tư vấn độc lập định kỳ 2 năm/lần. Kết quả giám sát là căn cứ điều chỉnh chiến lược, kế hoạch, danh mục đầu tư.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Quỹ chịu giám sát, đánh giá độc lập về rủi ro, hiệu quả đầu tư, tác động xã hội và hiệu quả thu hút đầu tư tư nhân.
  • ▸Báo cáo tài chính và báo cáo hoạt động của quỹ được kiểm toán độc lập hằng năm bởi công ty kiểm toán uy tín, đủ điều kiện và bởi kiểm toán nhà nước.
  • ▸Định kỳ 2 năm một lần, quỹ thuê tổ chức tư vấn độc lập có năng lực, kinh nghiệm để đánh giá tuân thủ nguyên tắc quản lý rủi ro, ngưỡng rủi ro, hiệu quả đầu tư theo chu kỳ, tác động xã hội và hiệu quả thu hút vốn tư nhân.
  • ▸Báo cáo kết quả giám sát, đánh giá độc lập là căn cứ để quỹ điều chỉnh chiến lược, kế hoạch, danh mục đầu tư phù hợp thực tiễn.
  • ▸Cơ quan đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 7 chịu trách nhiệm quản lý, theo dõi, giám sát vốn nhà nước tại quỹ theo pháp luật về doanh nghiệp và quản lý, đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm tần suất thuê tư vấn độc lập là hằng năm thay vì 02 năm một lần.
  • Cho rằng chỉ kiểm toán độc lập mà không cần kiểm toán nhà nước.
  • Bỏ sót nội dung đánh giá tác động xã hội và hiệu quả thu hút đầu tư tư nhân.

Giải thích

Điều 12 quy định hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm phải được giám sát và đánh giá độc lập. Nội dung giám sát gồm rủi ro, hiệu quả đầu tư, tác động xã hội và hiệu quả thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân. Cơ chế giám sát gồm: báo cáo tài chính và báo cáo hoạt động được kiểm toán độc lập hằng năm bởi công ty kiểm toán uy tín, đủ điều kiện và bởi kiểm toán nhà nước; định kỳ 02 năm một lần thuê tổ chức tư vấn độc lập có năng lực, kinh nghiệm để đánh giá tuân thủ nguyên tắc quản lý rủi ro, ngưỡng rủi ro, hiệu quả đầu tư theo chu kỳ, tác động xã hội và hiệu quả thu hút vốn tư nhân. Kết quả giám sát là căn cứ để quỹ điều chỉnh chiến lược, kế hoạch, danh mục đầu tư. Cơ quan đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại khoản 1 Điều 7 có trách nhiệm quản lý, theo dõi, giám sát vốn nhà nước tại quỹ theo quy định pháp luật về doanh nghiệp và quản lý, đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Nguyên văn Điều 12. Giám sát và đánh giá độc lập
1. Hoạt động của quỹ chịu sự giám sát và đánh giá độc lập về rủi ro, hiệu quả đầu tư, tác động xã hội và hiệu quả thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân. 2. Cơ chế giám sát và đánh giá độc lập được thực hiện thông qua: a) Báo cáo tài chính và báo cáo hoạt động của quỹ được kiểm toán độc lập hằng năm bởi một công ty kiểm toán uy tín, đủ điều kiện và bởi kiểm toán nhà nước theo quy định của pháp luật; b) Quỹ định kỳ 02 năm một lần thuê tổ chức tư vấn độc lập, có năng lực và kinh nghiệm chuyên môn để thực hiện đánh giá việc tuân thủ các nguyên tắc quản lý rủi ro và ngưỡng rủi ro của quỹ đã được phê duyệt, hiệu quả đầu tư của danh mục đầu tư theo chu kỳ, tác động xã hội của các khoản đầu tư của quỹ, hiệu quả thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân vào các dự án được quỹ đầu tư; c) Báo cáo kết quả các hoạt động giám sát và đánh giá độc lập quy định tại các điểm a và b khoản này là căn cứ để quỹ thực hiện việc điều chỉnh cần thiết đối với chiến lược, kế hoạch, danh mục đầu tư phù hợp với tình hình thực tiễn. 3. Cơ quan đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định này chịu trách nhiệm quản lý, theo dõi, giám sát vốn nhà nước tại quỹ theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.