Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 11/2026/TT-BGDĐT

Điều 12. Quy đổi các hoạt động chuyên môn khác ra giờ dạy

Căn cứ: Điều 12, 11/2026/TT-BGDĐT — Thông tư 11/2026/TT-BGDĐT Quy định chế độ làm việc đối với giáo viên mầm non

Tóm tắt

Điều 12 quy định cách quy đổi một số hoạt động chuyên môn của giáo viên mầm non ra giờ dạy: làm báo cáo viên tập huấn, dạy minh họa sinh hoạt chuyên môn, dạy tăng cường tại cơ sở khác, trông trẻ buổi trưa và làm giám khảo cuộc thi cấp trường.

Ý chính cần nhớ

  • ▸01 tiết/giờ làm báo cáo viên tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ = 01 giờ dạy.
  • ▸01 tiết/giờ dạy minh họa tại buổi sinh hoạt chuyên môn theo kế hoạch = 01 giờ dạy.
  • ▸Dạy tăng cường tại cơ sở giáo dục mầm non khác: mỗi ngày làm việc tính đủ định mức giờ dạy theo Điều 7 Thông tư 11/2026/TT-BGDĐT.
  • ▸Trông trẻ buổi trưa: mỗi buổi tính không quá 02 giờ dạy; hiệu trưởng quyết định bằng văn bản số giờ quy đổi sau khi thông qua cuộc họp tập thể giáo viên.
  • ▸01 tiết/giờ chấm thi trực tiếp khi làm giám khảo cuộc thi/hội thi giáo viên cấp trường theo kế hoạch = 01 giờ dạy.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm trông trẻ buổi trưa được tính cố định 02 giờ dạy, trong khi quy định là 'không quá 02 giờ dạy' và do hiệu trưởng quyết định bằng văn bản.
  • Bỏ qua yêu cầu việc quy đổi giờ trông trẻ buổi trưa phải được thông qua cuộc họp tập thể giáo viên mầm non.
  • Nhầm dạy tăng cường tại cơ sở khác được tính theo số tiết thực tế, trong khi văn bản tính mỗi ngày làm việc đủ định mức giờ dạy theo Điều 7.

Giải thích

Điều 12 hướng dẫn quy đổi các hoạt động chuyên môn khác ra giờ dạy đối với giáo viên mầm non. Theo đó, khi được huy động làm báo cáo viên tại lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ do hiệu trưởng hoặc cấp có thẩm quyền tổ chức (kể cả giáo viên cốt cán), mỗi tiết/giờ dạy thực tế được tính bằng 01 giờ dạy. Tương tự, dạy minh họa tại buổi sinh hoạt chuyên môn theo kế hoạch cũng được tính 01 tiết/giờ thực tế bằng 01 giờ dạy. Trường hợp được cơ quan có thẩm quyền cử đi dạy tăng cường tại cơ sở giáo dục mầm non khác, mỗi ngày làm việc được tính đủ định mức giờ dạy theo Điều 7 Thông tư này. Với trông trẻ buổi trưa, mỗi buổi tính không quá 02 giờ dạy; hiệu trưởng quyết định bằng văn bản số giờ quy đổi phù hợp số lượng trẻ bán trú và thời gian trông trẻ, sau khi thông qua cuộc họp tập thể giáo viên. Cuối cùng, làm giám khảo cuộc thi/hội thi giáo viên cấp trường theo kế hoạch thì 01 tiết/giờ chấm thi trực tiếp được tính bằng 01 giờ dạy.
Nguyên văn Điều 12. Quy đổi các hoạt động chuyên môn khác ra giờ dạy
1. Đối với giáo viên mầm non được huy động làm báo cáo viên tại lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên mầm non do hiệu trưởng hoặc cấp có thẩm quyền tổ chức (bao gồm cả giáo viên mầm non cốt cán) thì 01 tiết dạy (hoặc 01 giờ dạy) thực tế được tính bằng 01 giờ dạy. 2. Đối với giáo viên mầm non được phân công dạy minh họa tại buổi sinh hoạt chuyên môn theo kế hoạch thì 01 tiết dạy (hoặc 01 giờ dạy) thực tế được tính bằng 01 giờ dạy. 3. Giáo viên mầm non được cơ quan có thẩm quyền cử đi dạy tăng cường tại các cơ sở giáo dục mầm non khác thì mỗi ngày làm việc được tính đủ định mức giờ dạy theo quy định tại Điều 7 Thông tư này. 4. Giáo viên mầm non tham gia trông trẻ buổi trưa thì mỗi buổi được tính không quá 02 giờ dạy. Hiệu trưởng quyết định bằng văn bản số giờ quy đổi của giáo viên mầm non được phân công trông trẻ buổi trưa bảo đảm phù hợp với số lượng trẻ ở lại bán trú, thời gian trông trẻ. Việc quy đổi trong trường hợp này phải được thông qua cuộc họp tập thể giáo viên mầm non trong cơ sở giáo dục mầm non. 5. Giáo viên mầm non được phân công làm ban giám khảo trong các cuộc thi hoặc hội thi của giáo viên mầm non cấp trường theo kế hoạch (các cuộc thi hoặc hội thi theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo) thì 01 tiết (hoặc 01 giờ) tham gia chấm thi trực tiếp được tính bằng 01 giờ dạy.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.