Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 54/2024/QH15

Điều 12. Quy hoạch khoáng sản nhóm I, quy hoạch khoáng sản nhóm II, phương án quản lý về địa chất, khoáng sản

Căn cứ: Điều 12, 54/2024/QH15 — Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15

Tóm tắt

Điều 12 xác định quy hoạch khoáng sản nhóm I và nhóm II là quy hoạch ngành quốc gia; phương án quản lý về địa chất, khoáng sản là hợp phần trong phương án bảo vệ môi trường, khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên, đa dạng sinh học, phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn được tích hợp vào quy hoạch tỉnh. Điều này cũng quy định nguyên tắc hạn chế chia cắt khu vực khoáng sản và yêu cầu tuân thủ pháp luật về quy hoạch.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Quy hoạch khoáng sản nhóm I và nhóm II là quy hoạch ngành quốc gia.
  • ▸Phương án quản lý về địa chất, khoáng sản là hợp phần trong phương án bảo vệ môi trường, khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên, đa dạng sinh học, phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn được tích hợp vào quy hoạch tỉnh.
  • ▸Nguyên tắc: hạn chế chia cắt khu vực khoáng sản có thể đầu tư khai thác hiệu quả ở quy mô lớn để khoanh định thành các khu vực có quy mô nhỏ.
  • ▸Việc lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh, điều chỉnh theo trình tự, thủ tục rút gọn, công bố, tổ chức thực hiện quy hoạch khoáng sản nhóm I, nhóm II phải tuân thủ pháp luật về quy hoạch.
  • ▸Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 và phân công cơ quan tổ chức lập, trình Thủ tướng phê duyệt quy hoạch điều tra cơ bản địa chất, khoáng sản, quy hoạch khoáng sản nhóm I, nhóm II.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm phương án quản lý về địa chất, khoáng sản là quy hoạch độc lập thay vì hợp phần tích hợp vào quy hoạch tỉnh.
  • Nhầm quy hoạch khoáng sản nhóm I, II là quy hoạch tỉnh.
  • Bỏ sót nguyên tắc hạn chế chia cắt khu vực khoáng sản quy mô lớn.

Giải thích

Điều 12 Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15 quy định quy hoạch khoáng sản nhóm I, nhóm II là quy hoạch ngành quốc gia. Phương án quản lý về địa chất, khoáng sản là hợp phần trong phương án bảo vệ môi trường, khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên, đa dạng sinh học, phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn được tích hợp vào quy hoạch tỉnh. Các quy hoạch và phương án này phải bảo đảm nguyên tắc hạn chế chia cắt khu vực khoáng sản có thể đầu tư khai thác hiệu quả ở quy mô lớn để khoanh định thành các khu vực có quy mô nhỏ. Việc lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh (kể cả điều chỉnh theo trình tự, thủ tục rút gọn), công bố, tổ chức thực hiện quy hoạch khoáng sản nhóm I, nhóm II phải tuân thủ pháp luật về quy hoạch. Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 và phân công cơ quan tổ chức lập, trình Thủ tướng phê duyệt các quy hoạch nêu trên.
Nguyên văn Điều 12. Quy hoạch khoáng sản nhóm I, quy hoạch khoáng sản nhóm II,
phương án quản lý về địa chất, khoáng sản 1. Quy hoạch khoáng sản nhóm I, quy hoạch khoáng sản nhóm II là quy hoạch ngành quốc gia. 2. Phương án quản lý về địa chất, khoáng sản là hợp phần trong phương án bảo vệ môi trường, khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên, đa dạng sinh học, phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn được tích hợp vào quy hoạch tỉnh. 3. Quy hoạch khoáng sản nhóm I, quy hoạch khoáng sản nhóm II, phương án quản lý về địa chất, khoáng sản phải bảo đảm nguyên tắc hạn chế chia cắt khu vực khoáng sản có thể đầu tư khai thác hiệu quả ở quy mô lớn để khoanh định thành các khu vực có quy mô nhỏ. 4. Việc lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh, điều chỉnh theo trình tự, thủ tục rút gọn, công bố, tổ chức thực hiện quy hoạch khoáng sản nhóm I, quy hoạch khoáng sản nhóm II phải tuân thủ quy định của pháp luật về quy hoạch. 5. Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 Điều này; phân công cơ quan tổ chức lập, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch điều tra cơ bản địa chất, khoáng sản, quy hoạch khoáng sản nhóm I, quy hoạch khoáng sản nhóm II.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.