Nguyên văn Điều 12. Xét duyệt nhiệm vụ đổi mới sáng tạo
1. Trong thời hạn 30 ngày tính từ ngày xác nhận hồ sơ hợp lệ, cơ quan quản lý
nhiệm vụ đổi mới sáng tạo tổ chức xét duyệt nhiệm vụ. Việc tổ chức xét duyệt
nhiệm vụ đổi mới sáng tạo được cơ quan quản lý nhiệm vụ đổi mới sáng tạo quyết
định và thực hiện theo một trong các hình thức sau:
a) Tự xét duyệt;
b) Thành lập Hội đồng xét duyệt;
c) Thuê tổ chức tư vấn xét duyệt.
2. Đối với hình thức xét duyệt quy định tại điểm a khoản 1 Điều này cơ quan
quản lý nhiệm vụ đổi mới sáng tạo sử dụng bộ máy, nhân lực, nguồn lực của mình
để thực hiện xét duyệt nhiệm vụ.
3. Đối với hình thức xét duyệt quy định tại điểm b khoản 1 Điều này cơ quan
quản lý nhiệm vụ đổi mới sáng tạo thành lập Hội đồng xét duyệt nhiệm vụ đổi mới
sáng tạo (sau đây gọi tắt là Hội đồng xét duyệt) như sau:
a) Hội đồng xét duyệt do cơ quan quản lý nhiệm vụ đổi mới sáng tạo thành
lập, có từ 07 đến 09 thành viên, bao gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, các ủy viên và
thư ký, được lựa chọn theo nguyên tắc bảo đảm tính độc lập, khách quan, là đại
diện cơ quan quản lý nhà nước, chuyên gia ngành, doanh nhân, nhà khoa học,
chuyên gia công nghệ, chuyên gia tài chính có năng lực và chuyên môn phù hợp
với nhiệm vụ. Trường hợp khác do cơ quan quản lý nhiệm vụ đổi mới sáng tạo
quyết định;
b) Thành viên Hội đồng xét duyệt đáp ứng các yêu cầu sau: Phù hợp về
năng lực, chuyên môn hoặc có kinh nghiệm phù hợp với lĩnh vực của dự án,
phương án đầu tư được tư vấn; không có xung đột lợi ích trong quá trình tham
gia hoạt động của Hội đồng xét duyệt; không đồng thời là cá nhân, đại diện
doanh nghiệp, tổ chức thực hiện hoặc doanh nghiệp, tổ chức tham gia đề xuất
nhiệm vụ; không thuộc một trong các trường hợp sau: Đang bị truy cứu trách
nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích hoặc chưa chấp hành
xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo;
c) Hội đồng xét duyệt làm việc theo nguyên tắc: Bảo đảm công khai, minh
bạch, công bằng, dân chủ, khách quan; Hội đồng xét duyệt chỉ họp khi có ít nhất
hai phần ba (2/3) tổng số thành viên tham dự, trong đó phải có Chủ tịch hoặc Phó
Chủ tịch Hội đồng được ủy quyền điều hành; thành viên Hội đồng xét duyệt không
được tiết lộ thông tin, sử dụng nội dung hồ sơ ngoài phạm vi đánh giá; chịu trách
nhiệm bảo mật thông tin; các ý kiến đánh giá được thảo luận tại cuộc họp Hội đồng
xét duyệt để đi đến kết luận tập thể;
d) Hội đồng xét duyệt thực hiện đánh giá theo tiêu chí quy định tại khoản 1 và
một trong các điểm a, b, c khoản 2 Điều 8 Nghị định này; đồng thời xác định từng
nội dung được tài trợ, hỗ trợ, tiến độ, thời gian thực hiện, kết quả đầu ra tương ứng,
hồ sơ thanh toán đối với từng nội dung tài trợ, hỗ trợ;
đ) Hội đồng xét duyệt làm việc theo một trong các phương thức sau: Trực tiếp,
trực tuyến hoặc trực tiếp kết hợp trực tuyến;
e) Trình tự làm việc của Hội đồng xét duyệt:
Tài liệu phục vụ phiên họp được gửi cho thành viên Hội đồng xét duyệt theo
hình thức trực tuyến hoặc trực tiếp trước phiên họp ít nhất 03 ngày;
Hội đồng xét duyệt trao đổi, thống nhất từng nội dung của nhiệm vụ đổi mới
sáng tạo, biểu quyết bằng phiếu đối với từng nội dung. Trường hợp nội dung của
nhiệm vụ đổi mới sáng tạo có từ hai phần ba (2/3) tổng số phiếu biểu quyết “Đạt”
trở lên thì nội dung đó được đồng ý đề xuất tài trợ, hỗ trợ;
Thư ký Hội đồng xét duyệt tổng hợp và công khai kết quả biểu quyết của Hội
đồng tại buổi họp, lập Biên bản họp trong đó ghi rõ kết quả biểu quyết, ý kiến của
từng thành viên và kết luận về từng nội dung được tài trợ, thời gian, tiến độ và
các kết quả đầu ra, mức tài trợ, hỗ trợ và hồ sơ thanh toán đối với từng nội dung
tài trợ, hỗ trợ;
Trong trường hợp cần thiết, Cơ quan quản lý nhiệm vụ đổi mới sáng tạo thành
lập Hội đồng xét duyệt khác hoặc lấy ý kiến chuyên gia tư vấn độc lập trước khi
quyết định.
g) Mẫu Quyết định thành lập Hội đồng, phiếu đánh giá, biên bản họp tương
ứng theo Mẫu số I.7, I.8, I.9, I.10, I.11 và I.12 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị
định này.
4. Đối với hình thức xét duyệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều này, cơ quan
quản lý nhiệm vụ đổi mới sáng tạo thuê tổ chức tư vấn xét duyệt nhiệm vụ đổi mới
sáng tạo như sau:
a) Tổ chức tư vấn xét duyệt phải có tư cách pháp nhân, có năng lực, chuyên
môn và kinh nghiệm tổ chức thực hiện hoạt động đánh giá, tư vấn về nội dung đổi
mới sáng tạo;
b) Việc tư vấn đánh giá các nội dung đổi mới sáng tạo được thực hiện theo
hợp đồng giữa cơ quan quản lý nhiệm vụ đổi mới sáng tạo và tổ chức tư vấn
đánh giá;
c) Trách nhiệm của tổ chức tư vấn xét duyệt: Phải bảo đảm công khai, minh
bạch, công bằng, dân chủ, khách quan; tuân thủ liêm chính khoa học và đạo đức
nghề nghiệp trong toàn bộ quá trình đánh giá; không được tiết lộ thông tin, sử dụng
nội dung hồ sơ ngoài phạm vi đánh giá; chịu trách nhiệm bảo mật thông tin theo
quy định; chịu trách nhiệm trước pháp luật và cơ quan có thẩm quyền về chất
lượng chuyên môn và kết quả đánh giá; khi để xảy ra sai phạm, phải bồi hoàn mọi
chi phí bao gồm cả chi phí khắc phục và chịu các chế tài theo hợp đồng và quy
định của pháp luật;
d) Tổ chức tư vấn xét duyệt gửi văn bản kiến nghị với cơ quan quản lý nhiệm
vụ đổi mới sáng tạo về nội dung được tài trợ, hỗ trợ thời gian, tiến độ và các kết
quả đầu ra, mức tài trợ, hỗ trợ và hồ sơ thanh toán đối với từng nội dung tài trợ,
hỗ trợ, nêu rõ lý do;
đ) Tổ chức tư vấn có trách nhiệm trả lời bằng văn bản theo yêu cầu của cơ
quan quản lý nhiệm vụ đổi mới sáng tạo.
5. Hoàn thiện hồ sơ:
Trong thời hạn tối đa 03 ngày làm việc kể từ ngày có biên bản họp Hội đồng
xét duyệt, văn bản kiến nghị của tổ chức tư vấn xét duyệt, cơ quan quản lý nhiệm
vụ đổi mới sáng tạo thông báo kết quả cho tổ chức đề xuất để hoàn thiện hồ sơ và
nộp về cơ quan quản lý nhiệm vụ đổi mới sáng tạo trong vòng 15 ngày kể từ thời
điểm nhận thông báo. Quá thời hạn theo yêu cầu, cơ quan quản lý nhiệm vụ đổi
mới sáng tạo chấm dứt xem xét nhiệm vụ.
Trường hợp hồ sơ đề xuất không được chấp thuận thì cơ quan quản lý nhiệm
vụ đổi mới sáng tạo thông báo kết quả cho tổ chức đề xuất.