Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 96/2023/NĐ-CP

Điều 125. Quy trình cấp giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh

Căn cứ: Điều 125, 96/2023/NĐ-CP — Nghị định 96/2023/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Khám bệnh, chữa bệnh

Tóm tắt

Điều 125 quy định các phương án cấp mới, điều chỉnh giấy phép hành nghề sau khi có văn bằng tốt nghiệp lĩnh vực sức khỏe; yêu cầu thực hành theo Điều 129; thời hạn 24 tháng để nộp hồ sơ; xử lý trường hợp có thêm chứng nhận lương y, bài thuốc gia truyền; và điều kiện thực hành tại cơ sở thuộc lực lượng vũ trang.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Sau khi có văn bằng tốt nghiệp lĩnh vực sức khỏe, được chọn 1 trong 3 phương án: cấp mới ngay (phải thực hành theo Điều 129); học chuyên khoa rồi cấp mới (không phải thực hành); học thạc sỹ/tiến sỹ ở nước ngoài rồi cấp mới (phải thực hành theo Điều 129).
  • ▸Nếu đã được cấp giấy phép hành nghề theo điểm a khoản 1 hoặc đã có chứng chỉ hành nghề trước 01/01/2024 mà tiếp tục học chuyên khoa: có văn bằng chuyên khoa thì được điều chỉnh giấy phép không phải thực hành; có chứng chỉ chuyên khoa cơ bản thì phải thực hành đến khi tổng thời gian đào tạo và thực hành đủ 18 tháng.
  • ▸Có chứng chỉ đào tạo kỹ thuật chuyên môn hoặc chứng nhận chuyển giao kỹ thuật chưa có trong phạm vi hành nghề thì không phải điều chỉnh phạm vi; người chịu trách nhiệm chuyên môn quyết định bằng văn bản cho phép thực hiện.
  • ▸Nếu không nộp hồ sơ cấp mới/điều chỉnh trong vòng 24 tháng kể từ ngày được cấp văn bằng (hoặc hoàn thành thực hành với chứng chỉ chuyên khoa cơ bản) thì phải thực hành lại đủ thời gian theo Điều 129.
  • ▸Người vừa có văn bằng sức khỏe vừa có giấy chứng nhận lương y, bài thuốc gia truyền, phương pháp chữa bệnh gia truyền được đề nghị cấp giấy phép theo chức danh tại Điều 26 Luật Khám bệnh, chữa bệnh; phạm vi hành nghề tùy theo chức danh được cấp.
  • ▸Thực hành tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc lực lượng vũ trang mà muốn được Bộ Y tế hoặc cơ quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh cấp giấy phép thì phải đáp ứng quy định tại Mục 1 Chương II Nghị định 96/2023/NĐ-CP.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa văn bằng chuyên khoa và chứng chỉ chuyên khoa cơ bản: văn bằng thì không phải thực hành, chứng chỉ cơ bản thì phải thực hành đến đủ 18 tháng.
  • Cho rằng mọi trường hợp học chuyên khoa đều không phải thực hành; thực tế điểm c khoản 1 và điểm b khoản 2 vẫn yêu cầu thực hành.
  • Bỏ qua thời hạn 24 tháng: quá hạn thì phải thực hành lại đủ thời gian theo Điều 129 trước khi nộp hồ sơ.

Giải thích

Điều 125 Nghị định 96/2023/NĐ-CP hướng dẫn quy trình cấp giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh. Sau khi tốt nghiệp lĩnh vực sức khỏe, người có văn bằng được chọn một trong ba phương án: (1) đề nghị cấp mới ngay, nhưng phải thực hành theo Điều 129; (2) học chuyên khoa rồi cấp mới, không phải thực hành; (3) học thạc sỹ, tiến sỹ ở nước ngoài rồi cấp mới, phải thực hành theo Điều 129. Nếu đã có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề trước 01/01/2024 mà học tiếp chuyên khoa: có văn bằng chuyên khoa thì được điều chỉnh giấy phép không phải thực hành; có chứng chỉ chuyên khoa cơ bản thì phải thực hành đến khi tổng thời gian đào tạo và thực hành đủ 18 tháng. Các chứng chỉ kỹ thuật chuyên môn hoặc chuyển giao kỹ thuật chưa có trong phạm vi hành nghề không bắt buộc điều chỉnh phạm vi, nhưng người chịu trách nhiệm chuyên môn phải quyết định bằng văn bản. Nếu không nộp hồ sơ trong 24 tháng kể từ ngày có văn bằng (hoặc hoàn thành thực hành với chứng chỉ cơ bản) thì phải thực hành lại đủ thời gian. Người có thêm chứng nhận lương y, bài thuốc gia truyền, phương pháp chữa bệnh gia truyền được cấp giấy phép theo chức danh tại Điều 26 Luật Khám bệnh, chữa bệnh với phạm vi tương ứng. Thực hành tại cơ sở thuộc lực lượng vũ trang muốn được Bộ Y tế hoặc cơ quan y tế cấp tỉnh cấp giấy phép phải đáp ứng Mục 1 Chương II Nghị định 96/2023/NĐ-CP.
Nguyên văn Điều 125. Quy trình cấp giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh
1. Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo, người có văn bằng tốt nghiệp thuộc lĩnh vực sức khỏe sẽ được lựa chọn một trong ba phương án liên quan đến cấp giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh nh ư sau: a) Thực hiện thủ tục đề nghị cấp mới giấy phép hành nghề. Trước khi lập hồ sơ đề nghị cấp mới giấy phép hành nghề phải hoàn thành việc thực hành theo quy định tại Điều 129 Nghị định này. b) Tiếp tục học chuyên khoa và sau khi hoàn thành đào tạo chuyên khoa được thực hiện thủ tục đề nghị cấp mới giấy phép hành nghề với phạm vi hành ngh ề chuyên khoa. Trước khi lập hồ sơ đề nghị cấp mới giấy phép hành nghề không phải thực hành theo quy định tại Điều 129 Nghị định này. c) Tiếp tục học thạc sỹ, tiến sỹ lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở đào tạo nước ngoài và sau khi hoàn thành đào tạo được thực hiện thủ tục đề nghị cấp mới gi ấy phép hành nghề với phạm vi hành nghề chuyên khoa. Trước khi lập hồ sơ đề nghị cấp mới giấy phép hành nghề phải thực hành theo quy định tại Điều 129 Nghị định này. 82 CÔNG BÁO/Số 171 + 172/Ngày 26-01-2024 2. Trường hợp sau khi được cấp giấy phép hành nghề theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này hoặc đã có chứng chỉ hành nghề được cấp trước ngày 01 tháng 01 năm 2024, nếu người đó tiếp tục đi học chuyên khoa: a) Trường hợp được cấp văn bằng chuyên khoa thì được lập hồ sơ đề nghị điều chỉnh giấy phép hành nghề với phạm vi hành ngh ề chuyên khoa mà không phải thực hành; b) Trường hợp được cấp chứng chỉ chuyên khoa cơ bản thì phải thực hành chuyên khoa tương ứng với chuyên khoa đã được đào tạo ghi trên chứng chỉ chuyên khoa cơ bản đến khi tổng thời gian đào tạo chuyên khoa cơ bản và thời gian thực hành đủ 18 tháng (xác định theo thời điểm bắt đầu đào tạo chuyên khoa cơ bản). Sau khi hoàn thành thực hành thì được lập hồ sơ đề nghị điều chỉnh giấy phép hành nghề với phạm vi hành nghề chuyên khoa; c) Tiếp tục học thạc sỹ, tiến sỹ lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở đào tạo nước ngoài và sau khi hoàn thành đào tạo được thực hiện thủ tục đề nghị điều chỉnh giấy phép hành nghề với phạm vi hành nghề chuyên khoa sau khi hoàn thành quá trình thực hành theo quy định tạ i Điều 129 Nghị định này. 3. Trường hợp người hành nghề tham gia các khóa đào tạo và được cấp chứng chỉ đào tạo kỹ thuật chuyên môn theo quy định tại khoản 3 Điều 128 Nghị định này hoặc chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận (bao gồm cả các chứng chỉ, giấy chứng nhận được cấp trước ngày 01 tháng 01 năm 2024) chưa có trong phạm vi hành nghề đã đượ c cấp thì không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh phạm vi hành nghề mà căn cứ chứng nhận đào tạo kỹ thuật chuyên môn do cơ sở đào tạo hợp pháp cấp và năng lực thực hiện kỹ thuật chuyên môn của người hành nghề, người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quyết định việc cho phép người hành nghề th ực hiện kỹ thuật đã được đào tạo bằng văn bản. Trường hợp người hành nghề được chuyển giao kỹ thuật đối với kỹ thuật chưa có trong phạm vi hành nghề đã được cấp thì không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh phạm vi hành nghề mà căn cứ chứng nhận đủ năng lực thực hiện kỹ thu ật theo quy định tại điểm c khoản 4 Điều 85 Nghị định này, người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quyết định việc cho phép người hành nghề thực hiện kỹ thuật đã được chuyển giao bằng văn bản. 4. Trường hợp người đã hoàn thành chương trình đào tạo chuyên khoa theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này nhưng không nộp hồ sơ đề nghị cấp mới giấy phép hành nghề trong vòng 24 tháng kể từ ngày được cấp văn bằng chuyên khoa thì phải thực hành lại về chuyên khoa đó đủ thời gian theo quy định tại Điều 129 Nghị định này trước khi nộp hồ sơ đề nghị cấp mới giấy phép hành nghề. 5. Trường hợp người được cấp văn bằng chuyên khoa theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều này nhưng không nộp hồ sơ đề nghị điều chỉnh giấy phép hành nghề trong vòng 24 tháng kể từ ngày được cấp văn bằng thì phải thực hành lại về chuyên khoa đó đủ thời gian theo quy định tại Điều 129 Nghị định này tr ước khi nộp hồ sơ đề nghị điều chỉnh giấy phép hành nghề. 6. Trường hợp người được cấp chứng chỉ chuyên khoa cơ bản theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này nhưng không nộp hồ sơ đề nghị điều chỉnh giấy phép hành nghề trong vòng 24 tháng kể từ ngày hoàn thành thực hành theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì phải th ực hành lại về chuyên khoa đó đủ thời gian theo quy định tại Điều 129 Nghị định này trước khi nộp hồ sơ đề nghị điều chỉnh giấy phép hành nghề. 7. Trường hợp một người vừa có văn bằng tốt nghiệp thuộc lĩnh vực sức khỏe và vừa có một hoặc nhiều giấy chứng nhận sau đây: giấy chứng nhận lươ ng y, giấy chứng nhận bài thuốc gia truyền hoặc giấy chứng nhận phương pháp chữa bệnh gia truyền thì được đề nghị cấp giấy phép hành nghề theo một trong các chức danh quy định tại Điều 26 của Luật Khám bệnh, chữa bệnh và phải thực hiện quy trình cấp theo quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này. Phạm vi hành nghề ghi trong giấy phép hành nghề được cấp theo quy đị nh tại khoản này bao gồm: a) Trường hợp được cấp giấy phép hành nghề theo một trong các chức danh: bác sỹ, điều dưỡng, kỹ thuật y, hộ sinh, dinh dưỡng lâm sàng, tâm lý lâm sàng, cấp cứu viên ngoại viện thì phạm vi hành nghề bao gồm: phạm vi hành nghề của chức danh được cấp giấy phép hành nghề và phạm vi hành nghề tương ứng với một hoặc nhiều giấy chứng nhận sau đây: giấy chứ ng nhận lương y, giấy chứng nhận bài thuốc gia truyền hoặc giấy chứng nhận phương pháp chữa bệnh gia truyền; b) Trường hợp được cấp giấy phép hành nghề theo một trong các chức danh: lương y, người có bài thuốc gia truyền hoặc người có phương pháp chữa bệnh gia 84 CÔNG BÁO/Số 171 + 172/Ngày 26-01-2024 truyền thì phạm vi hành nghề bao gồm: phạm vi hành nghề của chức danh được cấp giấy phép hành nghề và phạm vi hành nghề tương ứng với kết quả kiểm tra đánh giá năng lực hành nghề. 8. Trường hợp người đề nghị cấp giấy phép hành nghề thực hành tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và muốn được Bộ Y tế hoặc C ơ quan chuyên môn về y tế thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh thì việc thực hành phải đáp ứng theo quy định tại Mục 1 Chương II Nghị định này.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.