Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 02/2017/TT-VPCP

Điều 14. Yêu cầu của việc công khai thủ tục hành chính tại trụ sở cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính

Căn cứ: Điều 14, 02/2017/TT-VPCP — Thông tư 02/2017/TT-VPCP hướng dẫn về nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính

Tóm tắt

Điều 14 quy định các yêu cầu bắt buộc khi công khai TTHC tại trụ sở cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết TTHC: phải kịp thời, đúng ngày Quyết định công bố có hiệu lực; không công khai TTHC đã hết hiệu lực; bảo đảm chính xác, rõ ràng, đầy đủ; tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân; và xử lý mẫu đơn, mẫu tờ khai, bản giấy niêm yết.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Công khai TTHC phải đúng ngày Quyết định công bố có hiệu lực thi hành; không công khai TTHC đã hết hiệu lực.
  • ▸Công khai phải chính xác, rõ ràng, đầy đủ TTHC và bộ phận tạo thành TTHC theo Quyết định công bố và dữ liệu kết xuất từ Cơ sở dữ liệu quốc gia (đối với TTHC trong Quyết định công bố danh mục).
  • ▸Mục tiêu: tạo thuận lợi tối đa cho tổ chức, cá nhân tiếp cận, tìm hiểu, thực hiện TTHC; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp; tạo cơ sở giám sát quá trình tiếp nhận, giải quyết TTHC.
  • ▸Nếu TTHC công khai có mẫu đơn, mẫu tờ khai thì phải đính kèm ngay sau TTHC.
  • ▸Bản giấy TTHC niêm yết công khai phải không bị hư hỏng, rách nát, hoen ố.
  • ▸Công khai điện tử thì mẫu đơn, mẫu tờ khai phải sẵn sàng cung cấp cho cá nhân, tổ chức khi có yêu cầu.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm 'đúng ngày Quyết định công bố có hiệu lực thi hành' với 'sau ngày Quyết định công bố có hiệu lực'.
  • Bỏ sót yêu cầu đính kèm mẫu đơn, mẫu tờ khai ngay sau TTHC khi công khai.

Giải thích

Điều 14 đặt ra các yêu cầu đối với việc công khai TTHC tại trụ sở cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết TTHC. Thứ nhất, việc công khai phải kịp thời, đúng ngày Quyết định công bố có hiệu lực thi hành và không được công khai TTHC đã hết hiệu lực. Thứ hai, nội dung công khai phải chính xác, rõ ràng, đầy đủ TTHC và bộ phận tạo thành TTHC theo Quyết định công bố và dữ liệu kết xuất từ Cơ sở dữ liệu quốc gia (đối với TTHC trong Quyết định công bố danh mục TTHC). Việc công khai nhằm tạo thuận lợi tối đa cho tổ chức, cá nhân tiếp cận, tìm hiểu, thực hiện TTHC; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp và tạo cơ sở để giám sát quá trình tiếp nhận, giải quyết TTHC. Thứ ba, nếu có mẫu đơn, mẫu tờ khai thì phải đính kèm ngay sau TTHC; bản giấy niêm yết phải không bị hư hỏng, rách nát, hoen ố; nếu công khai điện tử thì mẫu đơn, mẫu tờ khai phải sẵn sàng cung cấp khi có yêu cầu.
Nguyên văn Điều 14. Yêu cầu của việc công khai thủ tục hành chính tại trụ sở cơ quan,
đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính 1. Việc công khai thủ tục hành chính phải được tổ chức thực hiện kịp thời, đảm bảo thủ tục hành chính được công khai đúng ngày Quyết định công bố có hiệu lực thi hành; không công khai các thủ tục hành chính đã hết hiệu lự c thi hành. 2. Việc công khai thủ tục hành chính phải bảo đảm chính xác, rõ ràng, đầy đủ các thủ tục hành chính và bộ phận tạo thành thủ tục hành chính theo Quyết định công bố và dữ liệu được kết xuất từ Cơ sở dữ liệu quốc gia đối với thủ tục hành chính trong Quyết định công bố danh mục thủ tục hành chính; tạo thuận lợi tối đa cho tổ chức, cá nhân tiếp cậ n, tìm hiểu và thực hiện thủ tục hành chính; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; đồng thời có cơ sở, điều kiện để thực hiện quyền giám sát quá trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính của cán bộ, công chức nhà nước. 3. Trong trường hợp các thủ tục hành chính được công khai có mẫu đơn, mẫu tờ khai thì các mẫu đơn, mẫu tờ khai phả i được đính kèm ngay sau thủ tục hành chính; bản giấy thủ tục hành chính được niêm yết công khai phải bảo đảm không bị hư hỏng, rách nát, hoen ố; trường hợp công khai dưới hình thức điện tử thì mẫu đơn, mẫu tờ khai phải sẵn sàng để cung cấp cho cá nhân, tổ chức thực hiện khi có yêu cầu.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.