Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 36/2018/QH14

Điều 16. Báo cáo, công khai báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng

Căn cứ: Điều 16, 36/2018/QH14 — Luật Phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14

Tóm tắt

Điều 16 quy định chủ thể báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng; sự phối hợp trong xây dựng báo cáo; nội dung báo cáo; và yêu cầu công khai báo cáo trên cổng/trang thông tin điện tử hoặc phương tiện thông tin đại chúng.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Hàng năm, Chính phủ báo cáo Quốc hội về công tác phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước.
  • ▸Ủy ban nhân dân các cấp báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp về công tác phòng, chống tham nhũng ở địa phương.
  • ▸Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước phối hợp với Chính phủ xây dựng báo cáo trong phạm vi cả nước.
  • ▸Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện phối hợp với Ủy ban nhân dân cùng cấp xây dựng báo cáo ở địa phương.
  • ▸Báo cáo gồm: đánh giá tình hình tham nhũng; kết quả thực hiện biện pháp phòng ngừa, phát hiện, xử lý, thu hồi tài sản và nội dung khác; đánh giá công tác và phương hướng, giải pháp, kiến nghị.
  • ▸Báo cáo phải được công khai trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước hoặc phương tiện thông tin đại chúng.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm chủ thể báo cáo Quốc hội: Chính phủ báo cáo Quốc hội, không phải Tòa án nhân dân tối cao hay Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
  • Bỏ sót yêu cầu công khai báo cáo trên cổng/trang thông tin điện tử hoặc phương tiện thông tin đại chúng.

Giải thích

Điều 16 quy định hệ thống báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng. Khoản 1 xác định trách nhiệm báo cáo: Chính phủ báo cáo Quốc hội về công tác phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước; Ủy ban nhân dân các cấp báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp về công tác phòng, chống tham nhũng ở địa phương. Khoản 2 và 3 quy định sự phối hợp của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước với Chính phủ; và của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện với Ủy ban nhân dân cùng cấp trong xây dựng báo cáo. Khoản 4 liệt kê nội dung báo cáo gồm đánh giá tình hình tham nhũng; kết quả thực hiện các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, xử lý, thu hồi tài sản và nội dung khác; đánh giá công tác và phương hướng, giải pháp, kiến nghị. Khoản 5 yêu cầu công khai báo cáo trên cổng/trang thông tin điện tử hoặc phương tiện thông tin đại chúng.
Nguyên văn Điều 16. Báo cáo, công khai báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng
1. Hàng năm, Chính phủ có trách nhiệm báo cáo Quốc hội về công tác phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước; Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm báo cáo Hộ i đồng nhân dân cùng cấp về công tác phòng, chống tham nhũng ở địa phương. 2. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm phối hợp với Chính phủ trong việc xây dựng báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước. 3. Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cùng cấp trong việc xây dựng báo cáo v ề công tác phòng, chống tham nhũng ở địa phương. 4. Báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng bao gồm các nội dung sau đây: a) Đánh giá tình hình tham nhũng; b) Kết quả thực hiện các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng và các nội dung khác trong công tác quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng; 12 CÔNG BÁO/Số 1137 + 1138/Ngày 23-12-2018 c) Đánh giá về công tác phòng, chống tham nhũng và phương hướng, giải pháp, kiến nghị. 5. Báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng phải được công khai trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước hoặc phương tiện thông tin đại chúng.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.