Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 20/2023/QH15

Điều 16. Nhận thông điệp dữ liệu

Căn cứ: Điều 16, 20/2023/QH15 — Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15

Tóm tắt

Điều 16 Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15 quy định về người nhận thông điệp dữ liệu và cách xác định việc nhận, quyền coi mỗi thông điệp là độc lập, yêu cầu xác nhận và xử lý khi chưa nhận được xác nhận.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Người nhận là cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc người đại diện được chỉ định nhận thông điệp, không bao gồm người trung gian chuyển thông điệp.
  • ▸Người nhận được xem là đã nhận thông điệp nếu thông điệp được nhập vào hệ thống thông tin do người đó chỉ định và có thể truy cập được.
  • ▸Người nhận có quyền coi mỗi thông điệp nhận được là một thông điệp độc lập, trừ trường hợp biết hoặc buộc phải biết đó là bản sao.
  • ▸Nếu người khởi tạo yêu cầu hoặc thỏa thuận về việc gửi thông báo xác nhận, người nhận phải thực hiện đúng.
  • ▸Nếu người khởi tạo tuyên bố thông điệp chỉ có giá trị khi có xác nhận, thông điệp được xem là chưa gửi cho đến khi người khởi tạo nhận được xác nhận.
  • ▸Nếu không tuyên bố và chưa nhận xác nhận, người khởi tạo có thể thông báo và ấn định thời gian hợp lý để người nhận xác nhận; nếu vẫn không nhận được, người khởi tạo có quyền xem là chưa gửi.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa quyền coi thông điệp độc lập và trường hợp ngoại lệ khi biết đó là bản sao.
  • Điểm d khoản 2 yêu cầu tuyên bố trước hoặc trong khi gửi; nếu không tuyên bố thì áp dụng điểm đ.

Giải thích

Điều 16 quy định về việc nhận thông điệp dữ liệu. Người nhận là cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc người đại diện được chỉ định nhận, không bao gồm người trung gian chuyển tiếp. Khi không có thỏa thuận khác, người nhận được xem là đã nhận thông điệp nếu thông điệp được nhập vào hệ thống thông tin do họ chỉ định và có thể truy cập được. Họ có quyền coi mỗi thông điệp là độc lập, trừ khi biết hoặc buộc phải biết đó là bản sao. Nếu người khởi tạo yêu cầu xác nhận, người nhận phải gửi thông báo xác nhận. Nếu người khởi tạo tuyên bố thông điệp chỉ có giá trị khi có xác nhận, thông điệp được xem là chưa gửi cho đến khi có xác nhận. Nếu không tuyên bố và chưa nhận xác nhận, người khởi tạo có thể ấn định thời gian hợp lý để yêu cầu xác nhận; nếu vẫn không nhận được, có quyền xem là chưa gửi.
Nguyên văn Điều 16. Nhận thông điệp dữ liệu
1. Người nhận thông điệp dữ liệu là cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc người đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó được chỉ định nhận thông điệp dữ liệu từ người khởi tạ o thông điệp dữ liệu nhưng không bao gồm người trung gian chuyển thông điệp dữ liệu. 2. Trường hợp các bên tham gia giao dịch không có thỏa thuận khác thì việc nhận thông điệp dữ liệu được quy định như sau: a) Người nhận được xem là đã nhận được thông điệp dữ liệu nếu thông điệp dữ liệu được nhập vào hệ thống thông tin do người đó chỉ định và có thể truy cập được; 12 CÔNG BÁO/Số 867 + 868/Ngày 30-7-2023 b) Người nhận có quyền coi mỗi thông điệp dữ liệu nhận được là một thông điệp dữ liệu độc lập, trừ trường hợp thông điệp dữ liệu đó là bản sao của một thông điệp dữ liệu khác mà người nhận biết hoặc buộc phải biết thông điệp dữ liệu đó là bản sao; c) Trường hợp trước hoặc trong khi g ửi thông điệp dữ liệu, người khởi tạo có yêu cầu hoặc thỏa thuận với người nhận về việc người nhận phải gửi cho mình thông báo xác nhận khi nhận được thông điệp dữ liệu thì người nhận phải thực hiện đúng yêu cầu hoặc thỏa thuận này; d) Trường hợp trước hoặc trong khi gửi thông điệp dữ liệu, người khở i tạo đã tuyên bố thông điệp dữ liệu đó chỉ có giá trị khi có thông báo xác nhận, thông điệp dữ liệu đó được xem là chưa gửi cho đến khi người khởi tạo nhận được thông báo của người nhận xác nhận đã nhận được thông điệp dữ liệu đó; đ) Trường hợp người khởi tạo đã gửi thông điệp dữ liệ u mà không tuyên bố về việc người nhận phải gửi thông báo xác nhận và cũng chưa nhận được thông báo xác nhận, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản này, thì người khởi tạo có thể thông báo cho người nhận là chưa nhận được thông báo xác nhận và ấn định khoảng thời gian hợp lý để người nhận gửi thông báo xác nhận; nếu người khởi tạo vẫn không nhậ n được thông báo xác nhận trong khoảng thời gian đã ấn định thì người khởi tạo có quyền xem là chưa gửi thông điệp dữ liệu đó.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.