Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 242/2026/NĐ-CP

Điều 17. Đăng ký danh mục kênh chương trình trên dịch vụ phát thanh, truyền hình

Căn cứ: Điều 17, 242/2026/NĐ-CP — Nghị định 242/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Báo chí về quản lý hoạt động phát thanh, truyền hình và dịch vụ phát thanh, truyền hình

Tóm tắt

Điều 17 quy định việc đăng ký danh mục kênh chương trình đối với dịch vụ phát thanh, truyền hình quảng bá và trả tiền. Dịch vụ quảng bá được chủ động lựa chọn kênh trong nước theo điểm a, b khoản 1 Điều 13 mà không phải đăng ký. Dịch vụ trả tiền phải đăng ký lần đầu danh mục kênh, trừ nội dung theo yêu cầu trên Internet; khi thay đổi phải báo cáo. Điều này cũng quy định hồ sơ, trình tự cấp Giấy chứng nhận và yêu cầu đối với nội dung theo yêu cầu, giá trị gia tăng.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Dịch vụ quảng bá: được chủ động lựa chọn kênh chương trình trong nước theo điểm a, b khoản 1 Điều 13 Nghị định 242/2026/NĐ-CP và không phải đăng ký danh mục kênh.
  • ▸Dịch vụ trả tiền: phải đăng ký lần đầu danh mục kênh trong nước, nước ngoài trước khi cung cấp dịch vụ, trừ trường hợp trên Internet chỉ cung cấp nội dung theo yêu cầu.
  • ▸Khi thay đổi danh mục kênh đã đăng ký: gửi báo cáo về cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về phát thanh, truyền hình.
  • ▸Không phải đăng ký danh mục nội dung theo yêu cầu và nội dung giá trị gia tăng, nhưng phải bảo đảm yêu cầu tại khoản 3 Điều 17.
  • ▸Hồ sơ đăng ký lần đầu gồm: Tờ khai (Mẫu số 10); bản sao văn bản thỏa thuận điểm nhận tín hiệu kênh thiết yếu; bản sao văn bản thỏa thuận bản quyền kênh khác.
  • ▸Thời hạn: nộp hồ sơ cùng hồ sơ đề nghị cấp phép hoặc chậm nhất 05 ngày làm việc sau khi được cấp phép; cơ quan tiếp nhận kiểm tra hợp lệ trong 05 ngày làm việc; cấp Giấy chứng nhận trong 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ.
  • ▸Thay đổi danh mục kênh đã được cấp giấy chứng nhận: gửi báo cáo theo Mẫu số 12 ít nhất 03 ngày làm việc trước khi cung cấp dịch vụ mới và công bố tới thuê bao.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa dịch vụ quảng bá (không phải đăng ký) và dịch vụ trả tiền (phải đăng ký lần đầu).
  • Tưởng rằng mọi nội dung trên dịch vụ trả tiền đều phải đăng ký danh mục, nhưng nội dung theo yêu cầu và giá trị gia tăng không phải đăng ký.
  • Nhầm thời hạn báo cáo thay đổi danh mục kênh đã cấp giấy chứng nhận là 03 ngày làm việc trước khi cung cấp dịch vụ mới (không phải 05 hay 10 ngày).

Giải thích

Điều 17 Nghị định 242/2026/NĐ-CP quy định về đăng ký danh mục kênh chương trình trên dịch vụ phát thanh, truyền hình. Theo khoản 1, dịch vụ phát thanh, truyền hình quảng bá được chủ động lựa chọn kênh chương trình trong nước phù hợp với điểm a, b khoản 1 Điều 13 Nghị định này và không phải thực hiện thủ tục đăng ký danh mục kênh. Đối với dịch vụ trả tiền (khoản 2), đơn vị cung cấp phải đăng ký lần đầu danh mục kênh trong nước và nước ngoài trước khi cung cấp dịch vụ, trừ trường hợp trên Internet chỉ cung cấp nội dung theo yêu cầu; khi có thay đổi so với danh mục đã đăng ký phải gửi báo cáo; không phải đăng ký danh mục nội dung theo yêu cầu và giá trị gia tăng nhưng phải bảo đảm yêu cầu tại khoản 3. Khoản 4 quy định hồ sơ đăng ký lần đầu gồm tờ khai (Mẫu số 10), bản sao văn bản thỏa thuận điểm nhận tín hiệu kênh thiết yếu, bản sao văn bản thỏa thuận bản quyền kênh khác. Khoản 5 quy định trình tự, thủ tục: nộp hồ sơ cùng hồ sơ đề nghị cấp phép hoặc chậm nhất 05 ngày làm việc sau khi được cấp phép; cơ quan tiếp nhận kiểm tra trong 05 ngày làm việc; cấp Giấy chứng nhận trong 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ. Khoản 6 yêu cầu khi thay đổi danh mục kênh đã được cấp giấy chứng nhận, đơn vị phải gửi báo cáo theo Mẫu số 12 ít nhất 03 ngày làm việc trước khi cung cấp dịch vụ mới và công bố danh mục mới tới thuê bao.
Nguyên văn Điều 17. Đăng ký danh mục kênh chương trình trên dịch vụ phát
thanh, truyền hình 1. Đối với dịch vụ phát thanh, truyền hình quảng bá Đơn vị cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình quảng bá được chủ động lựa chọn danh mục kênh chương trình trong nước phù hợp quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 13 Nghị định này để cung cấp trên dịch vụ và không phải thực hiện thủ tục đăng ký danh mục kênh. 2. Đối với dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền a) Đơn vị cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền phải thực hiện đăng ký lần đầu danh mục các kênh chương trình trong nước, kênh chương trình nước ngoài trước khi cung cấp dịch vụ, trừ trường hợp trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trên mạng Internet chỉ cung cấp nội dung theo yêu cầu; b) Trong quá trình triển khai cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền, nếu có thay đổi so với danh mục kênh chương trình đã đăng ký, các đơn vị cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền thực hiện gửi báo cáo về việc thay đổi danh mục kênh chương trình tới cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về phát thanh, truyền hình; c) Đơn vị cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền không phải thực hiện đăng ký danh mục nội dung theo yêu cầu và nội dung giá trị gia tăng. Các nội dung theo yêu cầu và nội dung giá trị gia tăng trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền phải bảo đảm các yêu cầu quy định tại khoản 3 Điều này. 3. Yêu cầu đối với nội dung theo yêu cầu và nội dung giá trị gia tăng a) Bảo đảm đáp ứng yêu cầu về bản quyền theo quy định tại khoản 4 Điều 13 Nghị định này; b) Được thực hiện biên tập, phân loại trước khi cung cấp trên dịch vụ theo quy định tại khoản 3 Điều 13 Nghị định này; c) Nội dung quảng cáo (nếu có) được đơn vị cung cấp dịch vụ thực hiện biên tập bảo đảm tuân thủ quy định pháp luật Việt Nam về quảng cáo và các quy định của pháp luật khác có liên quan; d) Nội dung theo yêu cầu, nội dung của dịch vụ giá trị gia tăng, nội dung quảng cáo: Phải lưu trữ đầy đủ thông tin về thể loại nội dung, đơn vị biên tập, phân loại, cảnh báo, thời hạn bản quyền phục vụ báo cáo nghiệp vụ và kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền. 4. Hồ sơ đăng ký lần đầu danh mục kênh chương trình trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền a) Tờ khai đăng ký danh mục kênh chương trình trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền theo Mẫu số 10 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này; b) Bản sao văn bản thỏa thuận điểm nhận tín hiệu các kênh chương trình phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin tuyên truyền thiết yếu; c) Bản sao văn bản thỏa thuận bản quyền đối với kênh chương trình khác đăng ký trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền. 5. Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký danh mục kênh chương trình trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền a) Hồ sơ đăng ký danh mục kênh chương trình trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền lần đầu được đơn vị cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền thực hiện cùng với hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền hoặc chậm nhất trong vòng 05 ngày làm việc sau khi được cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền; b) Đơn vị cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền nộp 01 bộ hồ sơ theo quy định tại khoản 4 Điều này về cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về phát thanh, truyền hình bằng một trong các hình thức sau: qua dịch vụ bưu chính công ích hoặc nộp trực tiếp hoặc nộp trực tuyến trên Cổng dịch vụ công quốc gia. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về phát thanh, truyền hình có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ, thực hiện tiếp nhận hoặc yêu cầu chỉnh sửa, bổ sung hồ sơ; c) Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận chính thức hồ sơ hợp lệ, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về phát thanh, truyền hình cấp Giấy chứng nhận đăng ký danh mục kênh chương trình trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền theo Mẫu số 11 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này. Trường hợp không cấp giấy chứng nhận, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về phát thanh, truyền hình có văn bản trả lời và nêu rõ lý do. 6. Đơn vị cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền có thay đổi danh mục kênh chương trình so với danh mục kênh chương trình đã được cấp giấy chứng nhận thì gửi báo cáo bằng văn bản theo Mẫu số 12 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này về cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về phát thanh, truyền hình ít nhất 03 ngày làm việc trước khi thực hiện cung cấp dịch vụ theo danh mục kênh chương trình mới, đồng thời có trách nhiệm công bố danh mục kênh chương trình mới tới thuê bao.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.