Điều 19. Lập, phân bổ và giao dự toán kinh phí hỗ trợ sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi
Căn cứ: Điều 19, 115/2026/NĐ-CP — Nghị định 115/2026/NĐ-CP Quy định giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi và chính sách hỗ trợ của Nhà nước trong quản lý, khai thác công trình thủy lợi
Tóm tắt
Điều 19 quy định nguyên tắc lập, phân bổ, giao dự toán kinh phí hỗ trợ sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi; cơ sở lập dự toán; trách nhiệm tổng hợp dự toán của địa phương và Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Ý chính cần nhớ
- ▸Kinh phí hỗ trợ là một chỉ tiêu riêng trong dự toán chung của địa phương và Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
- ▸Việc lập, phân bổ, giao dự toán theo pháp luật về ngân sách nhà nước, đấu thầu, Nghị định về giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công và pháp luật khác có liên quan.
- ▸Cơ sở lập dự toán gồm: diện tích, khối lượng, nội dung công việc; giá năm liền kề trước; định mức kinh tế kỹ thuật; mức hỗ trợ tại khoản 2 Điều 16 Nghị định 115/2026/NĐ-CP.
- ▸Tổ chức, cá nhân khai thác công trình thủy lợi phối hợp Ủy ban nhân dân cấp xã lập bảng kê xác định đối tượng, khối lượng, diện tích được hỗ trợ và chịu trách nhiệm về nội dung kê khai.
- ▸Nơi chưa có doanh nghiệp, tổ chức thủy lợi cơ sở chưa ký hợp đồng thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập bảng kê và chịu trách nhiệm.
- ▸Sở Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp dự toán của tổ chức khai thác công trình thủy lợi cấp tỉnh và các xã gửi Sở Tài chính; Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp dự toán của tổ chức khai thác công trình thủy lợi trung ương gửi Bộ Tài chính.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm cơ quan tổng hợp dự toán: Sở Nông nghiệp và Môi trường gửi Sở Tài chính, không phải Bộ Tài chính trực tiếp.
- Nhầm đối tượng lập bảng kê khi chưa có hợp đồng: Ủy ban nhân dân cấp xã lập, không phải tổ chức khai thác công trình thủy lợi.
- Nhầm căn cứ giá: dùng giá năm liền kề trước đó, không phải giá năm hiện tại.
Giải thích
Nguyên văn Điều 19. Lập, phân bổ và giao dự toán kinh phí hỗ trợ sử dụng sản
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.