Điều 20. Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện quyết định xử lý về kiểm tra
Căn cứ: Điều 20, 126/2025/TT-BTC — Thông tư 126/2025/TT-BTC Quy định quy trình kiểm tra lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài chính
Tóm tắt
Điều 20 quy định trách nhiệm của đơn vị được giao tham mưu, chủ trì kiểm tra trong việc theo dõi, đôn đốc thực hiện quyết định xử lý về kiểm tra; thời hạn báo cáo kết quả đôn đốc; thẩm quyền của Giám đốc BHXH Việt Nam, Giám đốc BHXH tỉnh trong việc kết thúc hoặc tiếp tục theo dõi; và trách nhiệm báo cáo Bộ Tài chính khi đối tượng không thực hiện quyết định.
Ý chính cần nhớ
- ▸Đơn vị được giao tham mưu, chủ trì kiểm tra giúp Giám đốc BHXH Việt Nam, Giám đốc BHXH tỉnh theo dõi, đôn đốc thực hiện quyết định xử lý về kiểm tra.
- ▸Sau thời hạn trong quyết định xử phạt, văn bản yêu cầu chấn chỉnh, nếu đối tượng chưa thực hiện hoặc chưa đầy đủ thì phải đôn đốc bằng văn bản (mẫu số 18/KT).
- ▸Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày gửi văn bản đôn đốc, người được giao nhiệm vụ phải báo cáo kết quả đôn đốc.
- ▸Đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nếu đối tượng không chấp hành, người đôn đốc báo cáo, đề xuất các bước cưỡng chế theo Luật Xử lý vi phạm hành chính.
- ▸Giám đốc BHXH Việt Nam, Giám đốc BHXH tỉnh xem xét, quyết định kết thúc hoặc tiếp tục theo dõi, đôn đốc.
- ▸Giám đốc BHXH Việt Nam tổng hợp, báo cáo Bộ Tài chính khi hết thời hạn báo cáo mà đối tượng không thực hiện hoặc chưa hoàn thành, hoặc không thực hiện và không phối hợp báo cáo.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm thời hạn báo cáo kết quả đôn đốc là 20 ngày kể từ ngày hết hạn thực hiện quyết định, thay vì kể từ ngày gửi văn bản đôn đốc.
- Nhầm mẫu văn bản đôn đốc là mẫu khác, trong khi Điều 20 quy định mẫu số 18/KT.
- Cho rằng mọi trường hợp không thực hiện đều do Giám đốc BHXH tỉnh báo cáo Bộ Tài chính, trong khi thẩm quyền này thuộc Giám đốc BHXH Việt Nam.
Giải thích
Nguyên văn Điều 20. Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện quyết định xử lý về kiểm tra
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.