Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 216/2025/NĐ-CP

Điều 20. Trách nhiệm của người ra quyết định thanh tra, Thủ trưởng đơn vị được giao chủ trì cuộc thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra

Căn cứ: Điều 20, 216/2025/NĐ-CP — Nghị định 216/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Luật Thanh tra

Tóm tắt

Điều 20 quy định trách nhiệm của người ra quyết định thanh tra, Thủ trưởng đơn vị được giao chủ trì cuộc thanh tra và Trưởng đoàn thanh tra trong tổ chức, chỉ đạo, giám sát hoạt động thanh tra.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Người ra quyết định thanh tra tổ chức, chỉ đạo, giám sát Đoàn thanh tra; bảo đảm cuộc thanh tra đúng pháp luật, mục đích, yêu cầu, tiến độ, thời hạn; giải quyết kịp thời kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo liên quan.
  • ▸Thủ trưởng đơn vị được giao chủ trì cuộc thanh tra đề xuất thành lập Đoàn thanh tra; theo dõi, đôn đốc, giám sát Đoàn thanh tra; tham mưu, giúp người ra quyết định thanh tra; thực hiện nhiệm vụ khác khi được giao.
  • ▸Trưởng đoàn thanh tra thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo Luật Thanh tra, Nghị định này; tổ chức, chỉ đạo thành viên thực hiện đúng quyết định và kế hoạch tiến hành thanh tra đã phê duyệt; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo; chịu trách nhiệm trước pháp luật và người ra quyết định thanh tra về hoạt động của Đoàn thanh tra.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm nhiệm vụ đề xuất thành lập Đoàn thanh tra là của người ra quyết định thanh tra; thực tế thuộc Thủ trưởng đơn vị được giao chủ trì cuộc thanh tra.
  • Tưởng Trưởng đoàn thanh tra chỉ chịu trách nhiệm trước người ra quyết định thanh tra; thực tế còn chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Giải thích

Điều 20 Nghị định 216/2025/NĐ-CP quy định trách nhiệm của ba chủ thể. Người ra quyết định thanh tra có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo, giám sát Đoàn thanh tra; bảo đảm cuộc thanh tra được thực hiện đúng pháp luật, đúng mục đích, yêu cầu, tiến độ, thời hạn; giải quyết kịp thời các kiến nghị, phản ánh của Đoàn thanh tra và khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan. Thủ trưởng đơn vị được giao chủ trì cuộc thanh tra có trách nhiệm đề xuất thành lập Đoàn thanh tra; theo dõi, đôn đốc, giám sát Đoàn thanh tra thực hiện nhiệm vụ; tham mưu, giúp người ra quyết định thanh tra và thực hiện nhiệm vụ khác khi được giao. Trưởng đoàn thanh tra thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo Luật Thanh tra và Nghị định này; tổ chức, chỉ đạo các thành viên thực hiện đúng quyết định, kế hoạch tiến hành thanh tra đã được phê duyệt; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo; chịu trách nhiệm trước pháp luật và người ra quyết định thanh tra về hoạt động của Đoàn thanh tra.
Nguyên văn Điều 20. Trách nhiệm của người ra quyết định thanh tra, Thủ trưởng đơn
vị được giao chủ trì cuộc thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra 1. Người ra quyết định thanh tra có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo Đoàn thanh tra, giám sát hoạt động của Đoàn thanh tra, bảo đảm cuộc thanh tra được thực hiện đúng pháp luật, đúng mục đích, yêu cầu, tiến độ, thời hạn cuộc thanh tra; giải quyết kịp thời các kiến nghị, phản ánh của Đoàn thanh tra và khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến hoạt động của Đoàn thanh tra. 2. Thủ trưởng đơn vị được giao chủ trì cuộc thanh tra có trách nhiệm đề xuất thành lập Đoàn thanh tra; theo dõi, đôn đốc, giám sát Đoàn thanh tra thực hiện nhiệm vụ thanh tra; tham mưu, giúp người ra quyết định thanh tra thực hiện nhiệm vụ quy định tại khoản 1 Điều này; thực hiện các nhiệm vụ khác khi được người ra quyết định thanh tra giao. 12 CÔNG BÁO/Số 1071 + 1072/Ngày 19-8-2025 3. Trưởng đoàn thanh tra thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Thanh tra, Nghị định này; có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo các thành viên Đoàn thanh tra thực hiện đúng quyết định thanh tra và kế hoạch tiến hành thanh tra đã được phê duyệt; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo yêu cầu của người ra quyết định thanh tra; chịu trách nhiệm trước pháp luật và người ra quyết định thanh tra về hoạt động của Đoàn thanh tra.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.