Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 94/2025/QH15

Điều 23. Quan trắc phóng xạ môi trường

Căn cứ: Điều 23, 94/2025/QH15 — Luật Năng lượng nguyên tử số 94/2025/QH15

Tóm tắt

Điều 23 định nghĩa quan trắc phóng xạ môi trường, mục đích, nghĩa vụ của tổ chức tiến hành công việc bức xạ có nguy cơ phát tán chất phóng xạ, yêu cầu quản lý dữ liệu và phát triển mạng lưới quan trắc. Nội dung cũng nêu căn cứ quy hoạch và giao Chính phủ quy định chi tiết.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Quan trắc phóng xạ môi trường là theo dõi liên tục, định kỳ, đột xuất, có hệ thống về diễn biến phóng xạ trong các thành phần môi trường tại khu vực quan trắc.
  • ▸Mục đích: phát hiện kịp thời diễn biến bất thường, hỗ trợ ứng phó sự cố, cung cấp dữ liệu quản lý nhà nước và thực hiện cam kết quốc tế.
  • ▸Tổ chức tiến hành công việc bức xạ có nguy cơ phát tán chất phóng xạ phải quan trắc, báo cáo định kỳ và báo cáo ngay khi kết quả bất thường cho cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia.
  • ▸Dữ liệu quan trắc phải được quản lý, chia sẻ trên Nền tảng số quốc gia về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử.
  • ▸Phát triển mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia theo Quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử.

Lưu ý dễ nhầm

  • Bỏ sót nghĩa vụ báo cáo ngay khi phát hiện kết quả quan trắc bất thường.
  • Nhầm nền tảng chia sẻ dữ liệu với hệ thống khác; tên đúng là Nền tảng số quốc gia về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử.
  • Cho rằng mọi tổ chức đều phải quan trắc; chỉ tổ chức tiến hành công việc bức xạ có nguy cơ làm phát tán chất phóng xạ mới thuộc diện này.

Giải thích

Điều 23 quy định quan trắc phóng xạ môi trường là việc theo dõi liên tục, định kỳ, đột xuất, có hệ thống về diễn biến phóng xạ trong các thành phần môi trường tại khu vực quan trắc. Hoạt động này giúp phát hiện kịp thời diễn biến bất thường, hỗ trợ ứng phó sự cố, cung cấp dữ liệu cho quản lý nhà nước và thực hiện cam kết quốc tế. Tổ chức tiến hành công việc bức xạ có nguy cơ làm phát tán chất phóng xạ phải tiến hành quan trắc, báo cáo định kỳ cho cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia, đồng thời báo cáo ngay khi phát hiện kết quả bất thường. Dữ liệu quan trắc phải được quản lý và chia sẻ trên Nền tảng số quốc gia về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử. Mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia phát triển theo Quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử.
Nguyên văn Điều 23. Quan trắc phóng xạ môi trường
1. Quan trắc phóng xạ môi trường là việc theo dõi liên tục, định kỳ, đột xuất, có hệ thống về diễn biến phóng xạ trong các thành phần môi trường tại khu vực quan trắc. Quan trắc phóng xạ môi trường giúp phát hiện kịp thời mọi diễn biến bất thường về bức xạ tác động đến môi trường, hỗ trợ việc chủ động ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân; cung cấp cơ sở dữ liệu về phóng xạ phục vụ công tác quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử; thực hiện đầy đủ cam kết quốc tế trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. 2. Tổ chức tiến hành công việc bức xạ có nguy cơ làm phát tán chất phóng xạ phải tiến hành quan trắc phóng xạ môi trường, báo cáo cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia kết quả quan trắc phóng xạ môi trường định kỳ và báo cáo ngay khi phát hiện kết quả quan trắc phóng xạ môi trường bất thường. 3. Dữ liệu quan trắc phóng xạ môi trường phải được quản lý và chia sẻ trên Nền tảng số quốc gia về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử. 4. Việc phát triển mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia thực hiện theo Quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử. 5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.