Bài học
08/2017/QH14
Điều 24. Quy trình vận hành công trình thủy lợi
Căn cứ: Điều 24, 08/2017/QH14 — Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14
Tóm tắt
Điều này quy định việc vận hành công trình thủy lợi phải theo quy trình được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; trách nhiệm lập, điều chỉnh quy trình; thẩm quyền phê duyệt, công bố công khai quy trình vận hành.
Ý chính cần nhớ
- ▸Tổ chức, cá nhân khai thác phải vận hành công trình theo quy trình được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
- ▸Chủ đầu tư xây dựng công trình thủy lợi phải lập quy trình vận hành trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt trước khi đưa vào khai thác.
- ▸Công trình đang khai thác chưa có quy trình: tổ chức, cá nhân khai thác lập quy trình trình phê duyệt.
- ▸Công trình đang khai thác có quy trình không còn phù hợp: tổ chức, cá nhân khai thác điều chỉnh quy trình trình phê duyệt.
- ▸Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt, công bố công khai quy trình vận hành công trình thủy lợi do Bộ quản lý.
- ▸Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt hoặc phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt, công bố công khai quy trình vận hành công trình thủy lợi trên địa bàn (trừ công trình thuộc điểm a khoản 3 và khoản 4).
- ▸Công trình thủy lợi nhỏ: tổ chức, cá nhân trực tiếp khai thác phải lập quy trình vận hành và công bố công khai.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm lẫn trách nhiệm lập quy trình giữa chủ đầu tư và tổ chức, cá nhân khai thác trong từng trường hợp.
- Cho rằng mọi quy trình vận hành đều do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt.
Giải thích
Điều 24 Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14 yêu cầu tổ chức, cá nhân khai thác công trình thủy lợi phải vận hành theo quy trình được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Trách nhiệm lập và điều chỉnh quy trình được phân định: chủ đầu tư xây dựng công trình phải lập quy trình trình phê duyệt trước khi đưa vào khai thác; đối với công trình đang khai thác mà chưa có quy trình hoặc quy trình không còn phù hợp thì tổ chức, cá nhân khai thác phải lập hoặc điều chỉnh trình phê duyệt. Thẩm quyền phê duyệt, công bố công khai: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt, công bố công khai quy trình vận hành công trình thủy lợi do Bộ quản lý; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt hoặc phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt, công bố công khai quy trình vận hành công trình thủy lợi trên địa bàn, trừ các trường hợp đã nêu. Đối với công trình thủy lợi nhỏ, tổ chức, cá nhân trực tiếp khai thác phải lập quy trình vận hành và công bố công khai.
Nguyên văn Điều 24. Quy trình vận hành công trình thủy lợi
1. Tổ chức, cá nhân khai thác công trình thủy l
ợi phải vận hành công trình theo
quy trình được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
2. Trách nhiệm lập và điều chỉnh quy trình vận hành công trình thủy lợi được
quy định như sau:
18 CÔNG BÁO/Số 517 + 518/Ngày 26-7-2017
a) Chủ đầu tư xây dựng công trình thủy lợi phải lập quy trình vận hành, trình
cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt trước khi đưa vào khai thác;
b) Đối với công trình thủy lợi đang khai thác mà chưa có quy trình vận hành
thì tổ chức, cá nhân khai thác công trình thủy lợi có trách nhiệm lập quy trình vận
hành trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;
c) Đối với công trình thủy lợi đang khai thác mà quy trình vận hành không còn
phù hợp thì tổ chức, cá nhân khai thác công trình thủy lợi có trách nhiệ
m điều
chỉnh quy trình vận hành trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
3. Thẩm quyền phê duyệt, công bố công khai quy trình vận hành công trình
thủy lợi được quy định như sau:
a) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt, công bố công khai quy
trình vận hành công trình thủy lợi do Bộ quản lý;
b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt hoặc phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp
huyện phê duyệt, công bố công khai quy trình vận hành công trình thủy lợi trên địa
bàn, trừ công trình được quy
định tại điểm a khoản này và khoản 4 Điều này.
4. Đối với công trình thủy lợi nhỏ, tổ chức, cá nhân trực tiếp khai thác phải lập
quy trình vận hành và công bố công khai.
5. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định chi tiết Điều này.
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.