Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 217/2026/NĐ-CP

Điều 25. Quản lý công tác thiết kế xây dựng

Căn cứ: Điều 25, 217/2026/NĐ-CP — Nghị định 217/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Luật Xây dựng về quản lý hoạt động xây dựng

Tóm tắt

Nhà thầu tư vấn thiết kế chịu trách nhiệm về chất lượng thiết kế do mình thực hiện; việc thẩm tra, thẩm định, phê duyệt không thay thế hoặc làm giảm trách nhiệm này. Trong thiết kế công trình quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp, nhà thầu được đề xuất thí nghiệm, thử nghiệm mô phỏng. Sau khi hồ sơ được thẩm định, phê duyệt, chủ đầu tư kiểm tra khối lượng và chấp thuận nghiệm thu nếu đạt yêu cầu.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Nhà thầu tư vấn thiết kế chịu trách nhiệm về chất lượng thiết kế do mình thực hiện.
  • ▸Thẩm tra, thẩm định, phê duyệt không thay thế và không làm giảm trách nhiệm của nhà thầu tư vấn thiết kế.
  • ▸Nhà thầu thẩm tra thiết kế và các đơn vị liên quan chịu trách nhiệm theo pháp luật về công việc do mình thực hiện.
  • ▸Nhà thầu tư vấn thiết kế được đề xuất với chủ đầu tư thực hiện thí nghiệm, thử nghiệm mô phỏng đối với công trình quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp.
  • ▸Sau thẩm định, phê duyệt, chủ đầu tư kiểm tra khối lượng công việc đã thực hiện so với hợp đồng và chấp thuận nghiệm thu hồ sơ thiết kế nếu đạt yêu cầu.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nghĩ rằng việc thẩm định, phê duyệt làm giảm trách nhiệm của nhà thầu thiết kế; Điều 25 khẳng định không thay thế, không làm giảm trách nhiệm.
  • Nhầm lẫn chủ thể được đề xuất thí nghiệm, thử nghiệm mô phỏng: phải là nhà thầu tư vấn thiết kế đề xuất với chủ đầu tư, không phải chủ đầu tư tự thực hiện.

Giải thích

Điều 25 quy định trách nhiệm và một số nội dung quản lý công tác thiết kế xây dựng. Khoản 1 khẳng định nhà thầu tư vấn thiết kế chịu trách nhiệm về chất lượng thiết kế do mình thực hiện. Việc thẩm tra, thẩm định, phê duyệt của cá nhân, tổ chức, chủ đầu tư, người quyết định đầu tư hoặc cơ quan chuyên môn về xây dựng không thay thế và không làm giảm trách nhiệm của nhà thầu tư vấn thiết kế; nhà thầu thẩm tra thiết kế và các đơn vị liên quan chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật về công việc do mình thực hiện. Khoản 2 cho phép trong quá trình thiết kế công trình quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp, nhà thầu tư vấn thiết kế được đề xuất với chủ đầu tư thực hiện thí nghiệm, thử nghiệm mô phỏng để kiểm tra, tính toán khả năng làm việc của công trình nhằm hoàn thiện thiết kế, bảo đảm yêu cầu kỹ thuật và an toàn. Khoản 3 quy định sau khi hồ sơ thiết kế được thẩm định, phê duyệt, căn cứ hồ sơ đề nghị nghiệm thu của nhà thầu tư vấn, chủ đầu tư kiểm tra khối lượng công việc đã thực hiện so với hợp đồng và chấp thuận nghiệm thu hồ sơ thiết kế nếu đạt yêu cầu.
Nguyên văn Điều 25. Quản lý công tác thiết kế xây dựng
1. Nhà thầu tư vấn thiết kế chịu trách nhiệm về chất lượng thiết kế xây dựng do mình thực hiện; việc thẩm tra, thẩm định và phê duyệt thiết kế xây dựng của cá nhân, tổ chức, chủ đầu tư, người quyết định đầu tư hoặc cơ quan chuyên môn về xây dựng không thay thế và không làm giảm trách nhiệm của nhà thầu tư vấn thiết kế đối với chất lượng thiết kế xây dựng do nhà thầu tư vấn thiết kế thực hiện; nhà thầu thẩm tra thiết kế và các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về công việc do mình thực hiện. 2. Trong quá trình thiết kế công trình quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp, nhà thầu tư vấn thiết kế được đề xuất với chủ đầu tư thực hiện các thí nghiệm, thử nghiệm mô phỏng để kiểm tra, tính toán khả năng làm việc của công trình nhằm hoàn thiện thiết kế xây dựng, bảo đảm yêu cầu kỹ thuật và an toàn công trình. 3. Sau khi hồ sơ thiết kế xây dựng được thẩm định, phê duyệt theo quy định, căn cứ hồ sơ đề nghị nghiệm thu của nhà thầu tư vấn, chủ đầu tư kiểm tra khối lượng công việc đã thực hiện so với quy định của hợp đồng xây dựng và chấp thuận nghiệm thu hồ sơ thiết kế xây dựng nếu đạt yêu cầu.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.