Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 105/2016/QH13

Điều 28. Các trường hợp thu hồi Chứng chỉ hành nghề dược

Căn cứ: Điều 28, 105/2016/QH13 — Luật 105/2016/QH13 Luật Dược

Tóm tắt

Điều 28 liệt kê 11 trường hợp thu hồi Chứng chỉ hành nghề dược, gồm các vi phạm về thẩm quyền cấp, đề nghị của người được cấp, ghi sai do lỗi cơ quan cấp, giả mạo giấy tờ, có từ 02 chứng chỉ trở lên, cho thuê/mượn/chuyển nhượng chứng chỉ, không đáp ứng điều kiện, không hành nghề 12 tháng liên tục, không cập nhật kiến thức trong 03 năm, vi phạm đạo đức nghề nghiệp gây hậu quả nghiêm trọng, và bị tước chứng chỉ từ 02 lần trở lên đối với một hành vi vi phạm.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Cấp không đúng thẩm quyền.
  • ▸Người được cấp đề nghị thu hồi chứng chỉ của mình.
  • ▸Chứng chỉ bị ghi sai do lỗi của cơ quan cấp.
  • ▸Giả mạo giấy tờ trong hồ sơ đề nghị cấp.
  • ▸Cá nhân có từ 02 Chứng chỉ hành nghề dược trở lên.
  • ▸Cho thuê, cho mượn, thuê, mượn hoặc cho người khác sử dụng chứng chỉ.
  • ▸Không đáp ứng điều kiện tại Điều 13 hoặc khoản 2 Điều 14.
  • ▸Không hành nghề trong thời gian 12 tháng liên tục.
  • ▸Không có giấy xác nhận hoàn thành chương trình đào tạo, cập nhật kiến thức trong thời hạn 03 năm.
  • ▸Vi phạm đạo đức nghề nghiệp gây hậu quả đến tính mạng hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe.
  • ▸Bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức tước Chứng chỉ hành nghề dược từ 02 lần trở lên đối với một hành vi vi phạm.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm thời gian không hành nghề liên tục là 06 tháng hoặc 24 tháng thay vì 12 tháng.
  • Nhầm thời hạn cập nhật kiến thức là 05 năm thay vì 03 năm.
  • Cho rằng có 02 chứng chỉ là hợp pháp, trong khi đây là trường hợp thu hồi.
  • Nhầm vi phạm đạo đức nghề nghiệp chỉ cần gây hậu quả là thu hồi, trong khi phải gây hậu quả đến tính mạng hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe.

Giải thích

Điều 28 quy định các trường hợp thu hồi Chứng chỉ hành nghề dược. Có thể nhóm thành các nhóm: (1) sai sót trong cấp chứng chỉ như cấp không đúng thẩm quyền, ghi sai do lỗi cơ quan cấp; (2) theo đề nghị của người được cấp; (3) vi phạm của người hành nghề như giả mạo giấy tờ, có từ 02 chứng chỉ trở lên, cho thuê/mượn/chuyển nhượng chứng chỉ, không đáp ứng điều kiện, không hành nghề 12 tháng liên tục, không cập nhật kiến thức trong 03 năm, vi phạm đạo đức nghề nghiệp gây hậu quả nghiêm trọng; (4) bị tước chứng chỉ từ 02 lần trở lên đối với một hành vi vi phạm. Cần nhớ các mốc thời gian 12 tháng và 03 năm, cũng như điều kiện hậu quả của vi phạm đạo đức nghề nghiệp.
Nguyên văn Điều 28. Các trường hợp thu hồi Chứng chỉ hành nghề dược
1. Chứng chỉ hành nghề dược được cấp không đúng thẩm quyền. 2. Người được cấp Chứng chỉ hành nghề dược đề nghị thu hồi Chứng chỉ hành nghề dược của mình. 3. Chứng chỉ hành nghề dược bị ghi sai do lỗi của cơ quan cấp Chứng chỉ hành nghề dược. 4. Giả mạo giấy tờ trong hồ sơ đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề dược. 5. Cá nhân có từ 02 Chứng chỉ hành nghề dược trở lên. 6. Người có chứng chỉ hành nghề cho thuê, cho mượn, thuê, mượn hoặc cho người khác sử dụng Chứng chỉ hành nghề dược. 7. Người đã được cấp Chứng chỉ hành nghề dược không đáp ứng một trong các điều kiện được cấp Chứng chỉ hành nghề dược quy định tại Điều 13 hoặc khoản 2 Điều 14 của Luật này. 8. Người đã được cấp Chứng chỉ hành nghề dược mà không hành nghề trong thời gian 12 tháng liên tục. 9. Người hành nghề dược không có giấy xác nhận hoàn thành chương trình đào tạo, cập nhật kiến thức chuyên môn về dược trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp Chứng chỉ hành nghề dược hoặc kể từ ngày có giấy xác nhận hoàn thành chương trình đào tạo, cập nhật kiến thức chuyên môn về dược gần nhất. 10. Vi phạm đạo đức nghề nghiệp trong hành nghề dược gây hậu quả đến tính mạng hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người. 11. Đã bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức tước Chứng chỉ hành nghề dược từ 02 lần trở lên đối với một hành vi vi phạm.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.