Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 299/2026/NĐ-CP

Điều 29. Quy định chuyển tiếp

Căn cứ: Điều 29, 299/2026/NĐ-CP — Nghị định 299/2026/NĐ-CP Quy định tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập

Tóm tắt

Điều 29 quy định các tình huống chuyển tiếp khi Nghị định 299/2026/NĐ-CP có hiệu lực. Đề án, tờ trình đã gửi trước ngày có hiệu lực nhưng chưa được quyết định thì tiếp tục thực hiện theo Nghị định 120/2020/NĐ-CP và Nghị định 283/2025/NĐ-CP. Khi tổ chức lại đơn vị, số lượng cấp phó và tổ chức bên trong có thể nhiều hơn quy định nhưng phải bảo đảm đúng quy định trong thời hạn 05 năm. Đơn vị đã xếp hạng tiếp tục thực hiện đến khi có hướng dẫn mới. Sau khi Hội đồng quản lý kết thúc hoạt động, người đứng đầu đơn vị thực hiện nhiệm vụ quản lý điều hành. Bộ trưởng bộ quản lý ngành, lĩnh vực hoàn thành nhiệm vụ trong 12 tháng; nếu chưa hướng dẫn thì UBND cấp tỉnh quy định.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Đề án, tờ trình đã gửi trước ngày Nghị định 299/2026/NĐ-CP có hiệu lực nhưng chưa được ra quyết định thì tiếp tục thực hiện theo Nghị định số 120/2020/NĐ-CP và Nghị định số 283/2025/NĐ-CP.
  • ▸Trường hợp tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập, số lượng cấp phó của người đứng đầu và các tổ chức bên trong có thể nhiều hơn quy định.
  • ▸Thời hạn để đơn vị thực hiện số lượng cấp phó theo quy định tại Nghị định 299/2026/NĐ-CP là chậm nhất 05 năm kể từ ngày quyết định tổ chức lại có hiệu lực.
  • ▸Đơn vị sự nghiệp công lập đã được xếp hạng trước thời điểm Nghị định 299/2026/NĐ-CP có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện đến khi có hướng dẫn việc xếp hạng theo ngành, lĩnh vực.
  • ▸Sau khi Hội đồng quản lý kết thúc hoạt động, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện nhiệm vụ quản lý điều hành do hội đồng quản lý đảm nhiệm theo thẩm quyền.
  • ▸Chậm nhất sau 12 tháng kể từ ngày Nghị định 299/2026/NĐ-CP có hiệu lực, Bộ trưởng bộ quản lý ngành, lĩnh vực hoàn thành các nhiệm vụ thuộc thẩm quyền, trách nhiệm.
  • ▸Trong thời gian Bộ trưởng bộ quản lý ngành, lĩnh vực chưa hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định đối với đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ sự nghiệp công đa ngành, đa lĩnh vực ở cấp tỉnh, cấp xã để thực hiện tại địa phương.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm thời hạn 05 năm áp dụng cho mọi trường hợp tổ chức lại, trong khi đây là thời hạn tối đa để thực hiện số lượng cấp phó theo quy định.
  • Nhầm thời hạn 12 tháng là thời hạn của UBND cấp tỉnh, thực tế đây là thời hạn Bộ trưởng bộ quản lý ngành, lĩnh vực hoàn thành nhiệm vụ.
  • Nhầm đối tượng tiếp tục thực hiện theo Nghị định 120/2020/NĐ-CP: chỉ áp dụng với đề án, tờ trình đã gửi trước ngày Nghị định 299/2026/NĐ-CP có hiệu lực nhưng chưa được ra quyết định.

Giải thích

Điều 29 giải quyết các vấn đề chuyển tiếp. Thứ nhất, nếu cơ quan, tổ chức đã gửi đề án, tờ trình đến cơ quan hoặc người có thẩm quyền quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể, chuyển giao đơn vị sự nghiệp công lập trước ngày Nghị định 299/2026/NĐ-CP có hiệu lực nhưng chưa được ra quyết định thì tiếp tục thực hiện theo Nghị định số 120/2020/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 283/2025/NĐ-CP). Thứ hai, khi tổ chức lại đơn vị, số lượng cấp phó và các tổ chức bên trong có thể nhiều hơn quy định, nhưng chậm nhất 05 năm kể từ ngày quyết định tổ chức lại có hiệu lực, đơn vị phải thực hiện số lượng cấp phó theo Nghị định này. Thứ ba, đơn vị đã xếp hạng trước thời điểm Nghị định có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện đến khi có hướng dẫn xếp hạng theo ngành, lĩnh vực. Thứ tư, sau khi Hội đồng quản lý kết thúc hoạt động, người đứng đầu đơn vị thực hiện nhiệm vụ quản lý điều hành do hội đồng quản lý đảm nhiệm. Thứ năm, chậm nhất sau 12 tháng kể từ ngày Nghị định có hiệu lực, Bộ trưởng bộ quản lý ngành, lĩnh vực hoàn thành nhiệm vụ; trong thời gian chưa hướng dẫn thì UBND cấp tỉnh quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ sự nghiệp công đa ngành, đa lĩnh vực ở cấp tỉnh, cấp xã.
Nguyên văn Điều 29. Quy định chuyển tiếp
1. Cơ quan, tổ chức đã gửi đề án, tờ trình đến cơ quan hoặc người có thẩm quyền quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể, chuyển giao đơn vị sự nghiệp công lập trước ngày Nghị định này có hiệu lực, nhưng chưa được cơ quan hoặc người có thẩm quyền ra quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể, chuyển giao đơn vị sự nghiệp công lập thì tiếp tục thực hiện theo quy định tại Nghị định số 120/2020/NĐ-CP ngày 07 tháng 10 năm 2020 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 283/2025/NĐ-CP ngày 31 tháng 10 năm 2025 của Chính phủ. 2. Trường hợp tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập, số lượng cấp phó của người đứng đầu đơn vị và các tổ chức bên trong của đơn vị có thể nhiều hơn số lượng so với quy định. Chậm nhất là 05 năm kể từ ngày quyết định tổ chức lại của cấp có thẩm quyền có hiệu lực, đơn vị phải thực hiện số lượng cấp phó theo quy định tại Nghị định này. 3. Các đơn vị sự nghiệp công lập đã được xếp hạng trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện đến khi có hướng dẫn việc xếp hạng đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực của cấp có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này. 4. Sau khi Hội đồng quản lý kết thúc hoạt động, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện nhiệm vụ quản lý điều hành do hội đồng quản lý đảm nhiệm theo thẩm quyền. 5. Chậm nhất sau 12 tháng kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, Bộ trưởng bộ quản lý ngành, lĩnh vực hoàn thành các nhiệm vụ thuộc thẩm quyền, trách nhiệm quy định tại Nghị định này. Trong thời gian Bộ trưởng bộ quản lý ngành, lĩnh vực chưa hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ sự nghiệp công đa ngành, đa lĩnh vực ở cấp tỉnh, cấp xã để thực hiện tại địa phương.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.