Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 214/2025/NĐ-CP

Điều 3. Áp dụng Luật Đấu thầu trong trường hợp có quy định khác với điều ước quốc tế, thỏa thuận vay nước ngoài

Căn cứ: Điều 3, 214/2025/NĐ-CP — Nghị định 214/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu

Tóm tắt

Điều 3 quy định trình tự, thủ tục để Chính phủ quyết định áp dụng quy định về đấu thầu khác hoặc chưa được quy định tại Luật Đấu thầu khi ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận vay nước ngoài. Quy trình gồm 3 bước: đề xuất, lấy ý kiến, trình Chính phủ.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Trước khi đàm phán, cơ quan chủ quản dự án gửi cơ quan chủ trì đàm phán văn bản đề xuất áp dụng nội dung khác hoặc chưa được Luật Đấu thầu quy định.
  • ▸Nội dung văn bản đề xuất gồm: các quy định của nhà tài trợ/tổ chức quốc tế có nội dung khác hoặc chưa được quy định; sự cần thiết và đánh giá tác động.
  • ▸Cơ quan chủ trì đàm phán lấy ý kiến Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan; thời hạn trả lời là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận văn bản lấy ý kiến và tài liệu liên quan.
  • ▸Trước khi ký điều ước quốc tế, thỏa thuận vay nước ngoài, cơ quan chủ trì đàm phán trình Chính phủ xem xét, quyết định việc áp dụng theo quy định của nhà tài trợ hoặc tổ chức quốc tế.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm thời hạn trả lời ý kiến là 10 ngày hoặc 15 ngày.
  • Cho rằng cơ quan chủ quản dự án trực tiếp trình Chính phủ.
  • Nhầm vai trò của Bộ Ngoại giao và Bộ Tư pháp: chỉ tham gia ý kiến, không quyết định.

Giải thích

Điều 3 quy định trình tự, thủ tục áp dụng Luật Đấu thầu khi có quy định khác hoặc chưa được quy định tại Luật Đấu thầu trong điều ước quốc tế, thỏa thuận vay nước ngoài. Quy trình gồm ba bước. Bước 1: trước khi đàm phán, cơ quan chủ quản dự án gửi cơ quan chủ trì đàm phán văn bản đề xuất, gồm các quy định của nhà tài trợ/tổ chức quốc tế có nội dung khác hoặc chưa được quy định, cùng sự cần thiết và đánh giá tác động. Bước 2: cơ quan chủ trì đàm phán lấy ý kiến Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan; các cơ quan trả lời bằng văn bản trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản lấy ý kiến và tài liệu liên quan. Bước 3: trước khi ký điều ước quốc tế, thỏa thuận vay nước ngoài, cơ quan chủ trì đàm phán trình Chính phủ xem xét, quyết định việc áp dụng theo quy định của nhà tài trợ hoặc tổ chức quốc tế.
Nguyên văn Điều 3. Áp dụng Luật Đấu thầu trong trường hợp có quy định khác với điều
ước quốc tế, thỏa thuận vay nước ngoài Trước khi ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận vay nước ngoài có quy định về đấu thầu khác hoặc chưa được quy định tại Luật Đấu thầu, Chính phủ quyết định việc áp dụng quy định về đấu thầu theo trình tự, thủ tục như sau: 1. Trước khi đàm phán, cơ quan chủ quản dự án gửi cơ quan chủ trì đàm phán văn bản đề xuất việc áp dụng các nội dung khác hoặc chưa được quy định tại Luật Đấu thầu. Nội dung của văn bản đề xuất gồm: a) Các quy định của nhà tài trợ hoặc tổ chức quốc tế mà Nhà nước, Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có nội dung khác hoặc chưa được quy định tại Luật Đấu thầu; b) Sự cần thiết và đánh giá tác động của việc áp dụng các nội dung quy định tại điểm a khoản này. 2. Cơ quan chủ trì đàm phán lấy ý kiến của Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan về đề xuất áp dụng các nội dung khác hoặc chưa được quy định tại Luật Đấu thầu cùng với nội dung của điều ước quốc tế, thỏa thuận vay nước 6 CÔNG BÁO/Số 1063 + 1064/Ngày 17-8-2025 ngoài. Các cơ quan được lấy ý kiến trả lời bằng văn bản cho cơ quan chủ trì đàm phán trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản lấy ý kiến và tài liệu liên quan. 3. Trước khi ký điều ước quốc tế, thỏa thuận vay nước ngoài, cơ quan chủ trì đàm phán trình Chính phủ xem xét, quyết định việc áp dụng theo quy định của nhà tài trợ hoặc của tổ chức quốc tế mà Nhà nước, Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.