Điều 3. Điều khoản chuyển tiếp trong lĩnh vực quản lý nợ công
Căn cứ: Điều 3, 141/2025/QH15 — Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý nợ công số 141/2025/QH15
Tóm tắt
Điều 3 quy định cách xử lý chuyển tiếp đối với chương trình, dự án đã được phê duyệt trước ngày Luật có hiệu lực; chương trình, dự án áp dụng cơ chế đặc thù về nợ công; điều ước quốc tế, thỏa thuận vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài đã gửi hồ sơ; và chương trình, dự án đã được Thủ tướng phê duyệt cơ chế tài chính, điều kiện cho vay lại.
Ý chính cần nhớ
- ▸Chương trình, dự án đã được phê duyệt đề xuất hoặc chủ trương đầu tư trước ngày Luật có hiệu lực thì không phải thực hiện thủ tục đề xuất khoản vay.
- ▸Nếu sau ngày Luật có hiệu lực mà tăng trị giá khoản vay thì phải thực hiện thủ tục đề xuất khoản vay theo khoản 9 Điều 1 của Luật này.
- ▸Chương trình, dự án áp dụng cơ chế đặc thù về nợ công theo nghị quyết của Quốc hội: Bộ, cơ quan trung ương, UBND cấp tỉnh, doanh nghiệp nhà nước được lựa chọn tiếp tục áp dụng nghị quyết đã ban hành hoặc theo quy định của Luật này.
- ▸Điều ước quốc tế, thỏa thuận vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài đã được cơ quan đề xuất gửi hồ sơ trước ngày Luật có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện theo Luật Quản lý nợ công số 20/2017/QH14 đã sửa đổi, bổ sung theo Luật số 90/2025/QH15.
- ▸Chương trình, dự án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cơ chế tài chính, điều kiện cho vay lại trước ngày Luật có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện theo cơ chế đã phê duyệt.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm tưởng mọi trường hợp tăng trị giá khoản vay đều không phải làm thủ tục đề xuất khoản vay; thực tế phải làm theo khoản 9 Điều 1 của Luật này.
- Nhầm đối tượng được lựa chọn áp dụng cơ chế đặc thù: chỉ gồm Bộ, cơ quan trung ương, UBND cấp tỉnh, doanh nghiệp nhà nước.
- Nhầm hồ sơ điều ước quốc tế, thỏa thuận vay ODA/vay ưu đãi đã gửi trước ngày Luật có hiệu lực sẽ áp dụng ngay Luật mới, nhưng thực tế tiếp tục theo Luật số 20/2017/QH14 đã sửa đổi, bổ sung.
Giải thích
Nguyên văn Điều 3. Điều khoản chuyển tiếp
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.