Điều 3. Giải thích từ ngữ về nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Căn cứ: Điều 3, 267/2025/NĐ-CP — Nghị định 267/2025/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và một số quy định về thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo
Tóm tắt
Điều 3 Nghị định 267/2025/NĐ-CP giải thích 13 nhóm khái niệm và cụm từ được sử dụng trong nghị định, từ các hình thức nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (liên kết, hợp tác công tư, hợp tác quốc tế, giải mã công nghệ, mua bí quyết công nghệ, cụm nhiệm vụ, chuỗi nhiệm vụ) đến các loại đánh giá (trong kỳ, cuối kỳ, hiệu quả đầu ra, tác động), hợp đồng giao nhiệm vụ và cơ quan quản lý nhiệm vụ. Đây là điều khoản nền tảng giúp hiểu đúng các quy định khác của Nghị định.
Ý chính cần nhớ
- ▸Nhiệm vụ liên kết: Nhà nước tài trợ, đặt hàng tổ chức, doanh nghiệp thực hiện dựa trên hoạt động KHCN&ĐMST đã có giữa tổ chức, doanh nghiệp đó với doanh nghiệp khác.
- ▸Nhiệm vụ hợp tác công tư: tài trợ đồng thời từ ngân sách nhà nước và nguồn vốn ngoài ngân sách, dựa trên thỏa thuận về tỷ lệ đóng góp, phân chia kết quả nghiên cứu và sử dụng chung cơ sở vật chất - kỹ thuật.
- ▸Nhiệm vụ trong khuôn khổ hợp tác quốc tế: Nhà nước tài trợ, đặt hàng, triển khai trong khuôn khổ hợp tác song phương, đa phương giữa các cơ quan, tổ chức Việt Nam với đối tác nước ngoài.
- ▸Nhiệm vụ giải mã công nghệ: Nhà nước tài trợ, đặt hàng nhằm nghiên cứu giải mã, làm chủ và phát triển công nghệ chiến lược, được cấp toàn bộ hoặc một phần kinh phí từ ngân sách nhà nước.
- ▸Nhiệm vụ mua bí quyết công nghệ: Nhà nước tài trợ, đặt hàng nhằm tiếp nhận, sở hữu và nghiên cứu làm chủ bí quyết công nghệ, ưu tiên phục vụ mục tiêu phát triển công nghệ chiến lược.
- ▸Cụm nhiệm vụ: tập hợp từ hai nhiệm vụ trở lên có liên quan chặt chẽ, triển khai đồng bộ nhằm giải quyết chung một vấn đề và tối ưu hóa nguồn lực.
- ▸Chuỗi nhiệm vụ: tập hợp từ hai nhiệm vụ trở lên được thiết kế theo trình tự từ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ đến đổi mới sáng tạo, giao cho một tổ chức, doanh nghiệp chủ trì.
- ▸Đánh giá trong kỳ: cơ quan quản lý nhiệm vụ thực hiện trong thời gian triển khai, đánh giá mức độ hoàn thành công việc, tiến độ so với kế hoạch và các vấn đề phát sinh.
- ▸Đánh giá cuối kỳ: thực hiện khi kết thúc thời gian thực hiện nhiệm vụ, đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu, kết quả đầu ra so với hợp đồng giao nhiệm vụ.
- ▸Đánh giá hiệu quả đầu ra: thực hiện khi kết thúc thời gian thực hiện nhiệm vụ, xác định mức độ tương xứng giữa kết quả đạt được với nguồn lực ngân sách đã sử dụng.
- ▸Đánh giá tác động: thực hiện sau thời gian từ 02 đến 05 năm kể từ khi kết thúc thời gian triển khai nhiệm vụ, đo lường tác động đến phát triển kinh tế - xã hội.
- ▸Hợp đồng giao nhiệm vụ: hợp đồng giao thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên.
- ▸Cơ quan quản lý nhiệm vụ: bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; trường hợp phân cấp hoặc ủy quyền thì cơ quan, tổ chức được phân cấp, ủy quyền là cơ quan quản lý nhiệm vụ.
Lưu ý dễ nhầm
- Dễ nhầm lẫn giữa nhiệm vụ giải mã công nghệ và nhiệm vụ mua bí quyết công nghệ: giải mã công nghệ là nghiên cứu giải mã, làm chủ và phát triển công nghệ chiến lược; mua bí quyết công nghệ là tiếp nhận, sở hữu và nghiên cứu làm chủ bí quyết công nghệ.
- Dễ nhầm giữa cụm nhiệm vụ và chuỗi nhiệm vụ: cụm nhiệm vụ là tập hợp từ hai nhiệm vụ trở lên có liên quan chặt chẽ, triển khai đồng bộ; chuỗi nhiệm vụ là tập hợp từ hai nhiệm vụ trở lên theo trình tự từ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ đến đổi mới sáng tạo, giao cho một tổ chức, doanh nghiệp chủ trì.
- Dễ nhầm thời gian đánh giá tác động: đánh giá tác động được thực hiện sau thời gian từ 02 đến 05 năm kể từ khi kết thúc thời gian triển khai nhiệm vụ, không phải ngay khi kết thúc nhiệm vụ.
Giải thích
Nguyên văn Điều 3. Giải thích từ ngữ
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.