Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 115/2025/QH15

Điều 3. Quy định chuyển tiếp

Căn cứ: Điều 3, 115/2025/QH15 — Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ số 115/2025/QH15

Tóm tắt

Điều 3 quy định việc áp dụng pháp luật đối với các thỏa thuận, hồ sơ, dự án đầu tư liên quan đến chuyển giao công nghệ được thực hiện trước ngày Luật số 115/2025/QH15 có hiệu lực. Nguyên tắc chung là tôn trọng thỏa thuận đã ký kết, nhưng nếu có sửa đổi, bổ sung, gia hạn sau ngày Luật có hiệu lực thì áp dụng Luật mới; các hồ sơ đã thụ lý trước ngày Luật có hiệu lực nhưng chưa giải quyết thì tiếp tục áp dụng quy định của pháp luật cũ (Luật số 07/2017/QH14 đã sửa đổi, bổ sung).

Ý chính cần nhớ

  • ▸Thỏa thuận chuyển giao công nghệ ký trước ngày Luật có hiệu lực được tiếp tục thực hiện theo thỏa thuận; nếu sửa đổi, bổ sung, gia hạn sau ngày Luật có hiệu lực thì áp dụng Luật mới.
  • ▸Hồ sơ đề nghị đăng ký, gia hạn hợp đồng chuyển giao công nghệ thụ lý trước ngày Luật có hiệu lực mà chưa giải quyết thì áp dụng Luật Chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14 (đã sửa đổi, bổ sung).
  • ▸Hồ sơ đề nghị chấp thuận, cấp phép chuyển giao công nghệ thụ lý trước ngày 01/7/2025 mà chưa giải quyết thì áp dụng Luật số 07/2017/QH14 (đã sửa đổi, bổ sung).
  • ▸Dự án đầu tư sử dụng công nghệ thuộc Danh mục hạn chế chuyển giao hoặc có nguy cơ tác động xấu đến môi trường đã được quyết định chủ trương đầu tư... trước ngày Luật có hiệu lực mà chưa thẩm định công nghệ, nếu sau đó điều chỉnh có sửa đổi, bổ sung nội dung về công nghệ thì phải thẩm định theo Luật này.
  • ▸Hồ sơ đề nghị thẩm định hoặc có ý kiến về công nghệ trong giai đoạn chấp thuận chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư thụ lý trước ngày Luật có hiệu lực mà chưa có kết quả thì thực hiện theo Luật số 07/2017/QH14 (đã sửa đổi, bổ sung) và Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 (đã sửa đổi, bổ sung).

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa thời điểm thụ lý hồ sơ và thời điểm Luật có hiệu lực để xác định luật áp dụng.
  • Cho rằng mọi hồ sơ đã thụ lý trước ngày Luật có hiệu lực đều áp dụng Luật mới.
  • Bỏ qua ngoại lệ: dự án đầu tư đã có quyết định trước ngày Luật có hiệu lực nhưng nếu điều chỉnh nội dung công nghệ sau ngày Luật có hiệu lực thì phải thẩm định theo Luật mới.

Giải thích

Điều 3 quy định chuyển tiếp cho các trường hợp đã phát sinh trước ngày Luật số 115/2025/QH15 có hiệu lực. Khoản 1: thỏa thuận chuyển giao công nghệ ký trước ngày Luật có hiệu lực được tiếp tục thực hiện theo thỏa thuận; nhưng nếu sau ngày Luật có hiệu lực mà sửa đổi, bổ sung, gia hạn thì phải theo Luật này. Khoản 2 và 3: hồ sơ đề nghị đăng ký, gia hạn hợp đồng chuyển giao công nghệ thụ lý trước ngày Luật có hiệu lực (hoặc trước 01/7/2025 đối với hồ sơ chấp thuận, cấp phép) mà chưa giải quyết thì áp dụng Luật số 07/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung. Khoản 4: dự án đầu tư đã được quyết định chủ trương, chấp thuận chủ trương, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư... trước ngày Luật có hiệu lực mà chưa thẩm định công nghệ, nếu sau đó điều chỉnh có sửa đổi, bổ sung nội dung về công nghệ thì phải thẩm định theo Luật này. Khoản 5: hồ sơ đề nghị thẩm định hoặc có ý kiến về công nghệ thụ lý trước ngày Luật có hiệu lực mà chưa có kết quả thì áp dụng Luật cũ và Luật Xây dựng.
Nguyên văn Điều 3. Quy định chuyển tiếp
1. Thỏa thuận chuyển giao công nghệ được ký kết trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục thực hiện theo thỏa thuận đó; trường hợp sửa đổi, bổ sung, gia hạn sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì thực hiện theo quy định của Luật này. 2. Hồ sơ đề nghị đăng ký, gia hạn hợp đồng chuyển giao công nghệ được thụ lý trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa được giải quyết thì áp dụng theo quy định của Luật Chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 16/2023/QH15 và Luật số 93/2025/QH15. 3. Hồ sơ đề nghị chấp thuận, cấp phép chuyển giao công nghệ được thụ lý trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 mà đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa được giải quyết thì áp dụng theo quy định của Luật Chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 16/2023/QH15 và Luật số 93/2025/QH15. 4. Dự án đầu tư sử dụng công nghệ thuộc Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao hoặc dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường có sử dụng công nghệ đã được quyết định chủ trương đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, quyết định, phê duyệt dự án đầu tư trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa thực hiện thẩm định hoặc có ý kiến về công nghệ tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành, nếu điều chỉnh chủ trương đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, quyết định, phê duyệt dự án đầu tư, trong đó có sửa đổi, bổ sung nội dung về công nghệ thì phải thực hiện thẩm định hoặc có ý kiến về công nghệ theo quy định của Luật này. 5. Hồ sơ đề nghị thẩm định hoặc có ý kiến về công nghệ trong giai đoạn xem xét chấp thuận chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư được thụ lý trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa có kết quả giải quyết thì việc thẩm định hoặc có ý kiến về công nghệ để xem xét chấp thuận chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư thực hiện theo quy định của Luật Chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 16/2023/QH15 và Luật số 93/2025/QH15, Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 03/2016/QH14, Luật số 62/2020/QH14. Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10 tháng 12 năm 2025.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.