Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 58/2024/QH15

Điều 30. Trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư dự án thực hiện trên địa bàn từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên

Căn cứ: Điều 30, 58/2024/QH15 — Luật Đầu tư công số 58/2024/QH15

Tóm tắt

Điều 30 quy định cơ chế phối hợp giữa các Ủy ban nhân dân cấp tỉnh liên quan để thống nhất phương án giao 01 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm cơ quan chủ quản, báo cáo Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua và báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định. Sau khi được giao, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đó có trách nhiệm trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm A hoặc tự quyết định dự án nhóm B, nhóm C.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Dự án thực hiện trên địa bàn từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan chủ quản.
  • ▸Các Ủy ban nhân dân cấp tỉnh liên quan thống nhất phương án giao 01 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm cơ quan chủ quản thực hiện dự án.
  • ▸Các Ủy ban nhân dân cấp tỉnh liên quan báo cáo Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua chủ trương giao 01 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan chủ quản thực hiện dự án.
  • ▸Trên cơ sở nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được đề xuất báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan chủ quản thực hiện dự án.
  • ▸Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được giao trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm A theo trình tự, thủ tục tại Điều 25 của Luật này.
  • ▸Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được giao quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm B, nhóm C theo trình tự, thủ tục tại Điều 28 của Luật này.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn thẩm quyền: dự án nhóm A do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư; dự án nhóm B, nhóm C do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.
  • Cho rằng Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư thay vì chỉ quyết định giao cơ quan chủ quản.

Giải thích

Điều 30 quy định trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư dự án thực hiện trên địa bàn từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên. Khi dự án do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan chủ quản, các Ủy ban nhân dân cấp tỉnh liên quan phải thống nhất phương án giao 01 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm cơ quan chủ quản, báo cáo Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua chủ trương giao. Trên cơ sở nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được đề xuất báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định giao cơ quan chủ quản. Sau khi được giao, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đó có trách nhiệm: trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm A theo trình tự, thủ tục tại Điều 25 của Luật này; quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm B, nhóm C theo trình tự, thủ tục tại Điều 28 của Luật này.
Nguyên văn Điều 30. Trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư dự án thực hiện
trên địa bàn từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên 1. Trường hợp dự án thực hiện trên địa bàn từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan chủ quản, các Ủy ban nhân dân cấp tỉnh liên quan có trách nhiệm thống nhất phương án giao 01 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm cơ quan chủ quản thực hiện dự án, báo cáo Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua chủ trương giao 01 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan chủ quản thực hiện dự án. Trên cơ sở nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được đề xuất là cơ quan chủ quản thực hiện dự án báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan chủ quản thực hiện dự án. 2. Trên cơ sở quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được giao là cơ quan chủ quản thực hiện dự án có trách nhiệm: a) Trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm A theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 25 của Luật này; b) Quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm B, nhóm C theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 28 của Luật này.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.