Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 71/2026/NĐ-CP

Điều 30. Vi phạm quy định về giấy phép đối với nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu

Căn cứ: Điều 30, 71/2026/NĐ-CP — Nghị định 71/2026/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử

Tóm tắt

Điều 30 quy định mức phạt tiền đối với hành vi xây dựng, vận hành thử, vận hành, tháo dỡ nhà máy điện hạt nhân và lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu mà không có giấy phép hoặc giấy phép đã hết hạn. Mức phạt chia theo loại cơ sở và hành vi, cao nhất đến 2.000.000.000 đồng. Ngoài ra còn buộc thực hiện biện pháp bảo đảm an toàn.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Xây dựng lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu không phép/hết hạn: 300–500 triệu đồng.
  • ▸Xây dựng nhà máy điện hạt nhân không phép/hết hạn: 500–800 triệu đồng.
  • ▸Vận hành thử, vận hành lò phản ứng nghiên cứu không phép/hết hạn: 800–1.000 triệu đồng.
  • ▸Tháo dỡ lò phản ứng nghiên cứu không phép/hết hạn: 800–1.000 triệu đồng.
  • ▸Vận hành thử tổ máy, vận hành nhà máy điện hạt nhân không phép/hết hạn: 1.000–2.000 triệu đồng.
  • ▸Tháo dỡ nhà máy điện hạt nhân không phép/hết hạn: 1.000–2.000 triệu đồng.
  • ▸Biện pháp khắc phục hậu quả: buộc thực hiện biện pháp bảo đảm an toàn bức xạ, an ninh nguồn phóng xạ, an toàn hạt nhân, an ninh hạt nhân.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm mức phạt giữa lò phản ứng nghiên cứu và nhà máy điện hạt nhân: nhà máy điện hạt nhân có mức phạt cao hơn ở hành vi xây dựng.
  • Hành vi vận hành thử tổ máy điện hạt nhân được xếp cùng mức với vận hành nhà máy điện hạt nhân, không tách riêng.
  • Biện pháp khắc phục hậu quả áp dụng cho tất cả các khoản từ 1 đến 6, không chỉ riêng một hành vi.

Giải thích

Điều 30 quy định xử phạt hành vi vi phạm giấy phép đối với nhà máy điện hạt nhân và lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu. Các hành vi bị phạt gồm xây dựng, vận hành thử, vận hành, tháo dỡ mà không có giấy phép hoặc giấy phép đã hết hạn. Mức phạt được chia theo loại cơ sở và hành vi: xây dựng lò phản ứng nghiên cứu phạt 300–500 triệu đồng; xây dựng nhà máy điện hạt nhân phạt 500–800 triệu đồng; vận hành thử hoặc vận hành lò phản ứng nghiên cứu, tháo dỡ lò phản ứng nghiên cứu phạt 800 triệu – 1 tỷ đồng; vận hành thử tổ máy hoặc vận hành nhà máy điện hạt nhân, tháo dỡ nhà máy điện hạt nhân phạt 1–2 tỷ đồng. Ngoài phạt tiền, còn buộc thực hiện biện pháp bảo đảm an toàn bức xạ, an ninh nguồn phóng xạ, an toàn hạt nhân, an ninh hạt nhân.
Nguyên văn Điều 30. Vi phạm quy định về giấy phép đối với nhà máy điện hạt
nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu 1. Phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu mà không có giấy phép hoặc có giấy phép đã hết hạn theo quy định. 2. Phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng nhà máy điện hạt nhân mà không có giấy phép hoặc có giấy phép đã hết hạn theo quy định. 3. Phạt tiền từ 800.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng đối với hành vi vận hành thử, vận hành lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu mà không có giấy phép hoặc có giấy phép đã hết hạn theo quy định. 4. Phạt tiền từ 800.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng đối với hành vi tháo dỡ lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu mà không có giấy phép hoặc có giấy phép đã hết hạn theo quy định. 5. Phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng đối với hành vi vận hành thử tổ máy điện hạt nhân, vận hành nhà máy điện hạt nhân mà không có giấy phép hoặc có giấy phép đã hết hạn theo quy định. 6. Phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng đối với hành vi tháo dỡ nhà máy điện hạt nhân mà không có giấy phép hoặc có giấy phép đã hết hạn theo quy định. 7. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn bức xạ, an ninh nguồn phóng xạ, an toàn hạt nhân, an ninh hạt nhân theo quy định đối với hành vi quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 4, khoản 5 và khoản 6 Điều này.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.