Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 15/2026/TT-BGDĐT

Điều 31. Tuổi của học sinh phổ thông

Căn cứ: Điều 31, 15/2026/TT-BGDĐT — Thông tư 15/2026/TT-BGDĐT ban hành Điều lệ trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học

Tóm tắt

Điều 31 quy định tuổi vào lớp một là 06 tuổi, vào lớp sáu là 11 tuổi, vào lớp mười là 15 tuổi; đồng thời quy định các trường hợp được vào học ở tuổi cao hơn, học vượt lớp, học trước tuổi và giới hạn lưu ban. Thủ tục xem xét học vượt/trước tuổi gồm đơn của cha mẹ, Hội đồng khảo sát tư vấn và quyết định của hiệu trưởng.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Tuổi vào học lớp một là 06 tuổi, tính theo năm.
  • ▸Một số trường hợp đặc biệt có thể vào lớp một cao hơn nhưng không quá 03 tuổi; vượt quá 03 tuổi do Chủ tịch UBND cấp xã quyết định trên cơ sở đề nghị của cơ sở giáo dục.
  • ▸Tuổi vào lớp sáu là 11 tuổi; tuổi vào lớp mười là 15 tuổi và phải hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở hoặc tương đương.
  • ▸Học sinh không được lưu ban quá 03 lần trong một cấp học.
  • ▸Học sinh tiểu học có thể lực tốt, phát triển sớm về trí tuệ có thể học vượt lớp trong phạm vi cấp học; học sinh trung học có thể vào học trước tuổi hoặc học vượt lớp trong phạm vi cấp học.
  • ▸Quy trình xem xét học vượt/trước tuổi: cha mẹ có đơn; hiệu trưởng thành lập Hội đồng khảo sát, tư vấn; hiệu trưởng xem xét, quyết định.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm tuổi vào lớp sáu (11 tuổi) với tuổi vào lớp mười (15 tuổi).
  • Cho rằng mọi trường hợp vào lớp một cao hơn 03 tuổi đều do hiệu trưởng quyết định, trong khi thẩm quyền là Chủ tịch UBND cấp xã.
  • Nhầm số lần lưu ban tối đa trong một cấp học (03 lần).

Giải thích

Điều 31 quy định tuổi của học sinh phổ thông. Học sinh vào lớp một là 06 tuổi, tính theo năm. Trẻ em khuyết tật, kém phát triển thể lực hoặc trí tuệ, ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người dân tộc thiểu số, gặp khó khăn trong học tập, mồ côi không nơi nương tựa, ở nước ngoài về nước, con em người nước ngoài học tập, làm việc ở Việt Nam có thể vào lớp một cao hơn nhưng không quá 03 tuổi; nếu vượt quá 03 tuổi thì do Chủ tịch UBND cấp xã nơi cư trú quyết định trên cơ sở đề nghị của cơ sở giáo dục. Học sinh tiểu học học ở độ tuổi cao hơn trong các trường hợp lưu ban, vùng đặc biệt khó khăn, dân tộc thiểu số, khó khăn học tập, khuyết tật, kém phát triển, mồ côi, ở nước ngoài về nước và trường hợp khác theo pháp luật. Tuổi vào lớp sáu là 11 tuổi; vào lớp mười là 15 tuổi và phải hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở hoặc tương đương. Học sinh học vượt lớp hoặc vào cấp học cao hơn tuổi thì tuổi vào lớp sáu, lớp mười được giảm hoặc tăng căn cứ vào tuổi của năm tốt nghiệp cấp học trước. Học sinh dân tộc thiểu số, gặp khó khăn trong học tập, khuyết tật, hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, ở nước ngoài về nước có thể vào cấp học cao hơn 03 tuổi so với quy định. Học sinh không được lưu ban quá 03 lần trong một cấp học. Học sinh tiểu học có thể lực tốt và phát triển sớm về trí tuệ, năng lực học tập vượt trội có thể học vượt lớp trong phạm vi cấp học; học sinh trung học có thể vào học trước tuổi hoặc học vượt lớp trong phạm vi cấp học. Việc xem xét gồm: cha mẹ có đơn đề nghị; hiệu trưởng thành lập Hội đồng khảo sát, tư vấn; hiệu trưởng xem xét, quyết định.
Nguyên văn Điều 31. Tuổi của học sinh phổ thông
1. Tuổi của học sinh vào học lớp một là 06 tuổi và được tính theo năm. Trẻ em khuyết tật, kém phát triển về thể lực hoặc trí tuệ, trẻ em ở những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trẻ em người dân tộc thiểu số, trẻ em gặp khó khăn trong học tập, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em ở nước ngoài về nước, con em người nước ngoài học tập, làm việc ở Việt Nam có thể vào học lớp một ở độ tuổi cao hơn so với quy định nhưng không quá 03 tuổi. Trường hợp trẻ em vào học lớp một vượt quá 03 tuổi so với quy định sẽ do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú quyết định trên cơ sở đề nghị của cơ sở giáo dục. Học sinh tiểu học học ở độ tuổi cao hơn tuổi quy định trong trường hợp học sinh học lưu ban, học sinh ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, học sinh là người dân tộc thiểu số, học sinh gặp khó khăn trong học tập, học sinh là người khuyết tật, học sinh kém phát triển về thể lực hoặc trí tuệ, học sinh mồ côi không nơi nương tựa, học sinh ở nước ngoài về nước và trường hợp khác theo quy định của pháp luật. 2. Tuổi của học sinh vào học lớp sáu là 11 tuổi. Tuổi của học sinh vào học lớp mười là 15 tuổi, học sinh vào học lớp mười phải hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở hoặc tương đương. Đối với những học sinh được học vượt lớp ở cấp học trước hoặc học sinh vào cấp học ở độ tuổi cao hơn tuổi quy định thì tuổi vào lớp sáu và lớp mười được giảm hoặc tăng căn cứ vào tuổi của năm tốt nghiệp cấp học trước. Học sinh là người dân tộc thiểu số, học sinh gặp khó khăn trong học tập, học sinh khuyết tật, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, học sinh ở nước ngoài về nước có thể vào cấp học ở tuổi cao hơn 03 tuổi so với tuổi quy định. 3. Học sinh không được lưu ban quá 03 lần trong một cấp học. 4. Học sinh tiểu học có thể lực tốt và có biểu hiện phát triển sớm về trí tuệ, năng lực học tập vượt trội so với yêu cầu của lớp học đang theo học có thể được học vượt lớp trong phạm vi cấp học. Học sinh trung học có thể lực tốt và phát triển sớm về trí tuệ có thể vào học trước tuổi hoặc học vượt lớp trong phạm vi cấp học. Việc xem xét đối với từng trường hợp cụ thể được thực hiện theo các bước sau: a) Cha mẹ học sinh có đơn đề nghị với nhà trường; b) Hiệu trưởng thành lập Hội đồng khảo sát, tư vấn gồm thành phần cơ bản sau: đại diện của Lãnh đạo trường, giáo viên trực tiếp giảng dạy học sinh và đại diện Ban đại diện cha mẹ học sinh của trường; việc khảo sát căn cứ vào kết quả học tập, năng lực nhận thức, tâm sinh lý và khả năng thích ứng của học sinh; c) Căn cứ kết quả khảo sát của Hội đồng khảo sát, tư vấn, hiệu trưởng xem xét, quyết định.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.