Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 25/2018/QH14

Điều 31. Xác minh nội dung tố cáo

Căn cứ: Điều 31, 25/2018/QH14 — Luật Tố cáo số 25/2018/QH14

Tóm tắt

Điều 31 quy định về việc xác minh nội dung tố cáo: người giải quyết tố cáo có thể tự xác minh hoặc giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. Văn bản giao xác minh phải có các nội dung chính và người xác minh phải thu thập tài liệu, tạo điều kiện cho người bị tố cáo giải trình, sau đó báo cáo kết quả.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Người giải quyết tố cáo tiến hành xác minh hoặc giao cho cơ quan thanh tra cùng cấp hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác xác minh; việc giao phải bằng văn bản.
  • ▸Văn bản giao xác minh gồm: ngày tháng năm; người được giao; họ tên, địa chỉ người bị tố cáo; tên, trụ sở cơ quan, tổ chức bị tố cáo; nội dung cần xác minh; thời gian xác minh; quyền và trách nhiệm của người được giao.
  • ▸Người xác minh phải thu thập thông tin, tài liệu, ghi chép thành văn bản, lập biên bản khi cần, lưu hồ sơ.
  • ▸Trong quá trình xác minh, phải tạo điều kiện để người bị tố cáo giải trình, đưa ra chứng cứ.
  • ▸Người xác minh được thực hiện quyền, nghĩa vụ theo các điểm a, b, c, d khoản 1 và a, b, c khoản 2 Điều 11 theo phân công.
  • ▸Kết thúc xác minh, phải có văn bản báo cáo người giải quyết tố cáo về kết quả và kiến nghị biện pháp xử lý.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm tưởng người giải quyết tố cáo bắt buộc phải tự xác minh.
  • Bỏ sót nội dung 'thời gian tiến hành xác minh' trong văn bản giao xác minh.
  • Cho rằng không cần tạo điều kiện cho người bị tố cáo giải trình.

Giải thích

Điều 31 Luật Tố cáo 2018 quy định trình tự, thủ tục xác minh nội dung tố cáo. Người giải quyết tố cáo có thể tự mình xác minh hoặc giao cho cơ quan thanh tra cùng cấp hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác xác minh; việc giao phải bằng văn bản. Văn bản giao xác minh cần có các thông tin cơ bản như ngày giao, người được giao, thông tin người bị tố cáo, nội dung cần xác minh, thời gian xác minh, quyền và trách nhiệm của người được giao. Người xác minh phải thu thập thông tin, tài liệu, ghi chép thành văn bản, lập biên bản khi cần và lưu hồ sơ. Đặc biệt, phải tạo điều kiện để người bị tố cáo giải trình, đưa ra chứng cứ chứng minh. Người xác minh được thực hiện một số quyền, nghĩa vụ theo Điều 11. Kết thúc, phải báo cáo kết quả và kiến nghị biện pháp xử lý.
Nguyên văn Điều 31. Xác minh nội dung tố cáo
1. Người giải quyết tố cáo tiến hành xác minh hoặc giao cho cơ quan thanh tra cùng cấp hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác xác minh nội dung tố cáo (gọi chung là người xác minh nội dung t ố cáo). Việc giao xác minh nội dung tố cáo phải thực hiện bằng văn bản. 2. Văn bản giao xác minh nội dung tố cáo có các nội dung chính sau đây: a) Ngày, tháng, năm giao xác minh; b) Người được giao xác minh nội dung tố cáo; c) Họ tên, địa chỉ của người bị tố cáo; tên gọi, trụ sở của cơ quan, tổ chức bị tố cáo; d) Nội dung cần xác minh; đ) Thời gian tiến hành xác minh; e) Quyền và trách nhiệm của người được giao xác minh n ội dung tố cáo. 3. Người xác minh nội dung tố cáo phải tiến hành các biện pháp cần thiết để thu thập thông tin, tài liệu, làm rõ nội dung tố cáo. Thông tin, tài liệu thu thập phải được ghi chép thành văn bản, khi cần thiết thì lập thành biên bản, được lưu giữ trong hồ sơ vụ việc tố cáo. 4. Trong quá trình xác minh, người xác minh nội dung tố cáo phải tạo điều kiện để người bị tố cáo giải trình, đưa ra các chứng c ứ để chứng minh tính đúng, sai của nội dung cần xác minh. 22 CÔNG BÁO/Số 775 + 776/Ngày 14-7-2018 5. Người xác minh nội dung tố cáo được thực hiện các quyền và nghĩa vụ quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1 và các điểm a, b, c khoản 2 Điều 11 của Luật này theo phân công của người giải quyết tố cáo. 6. Kết thúc việc xác minh nội dung tố cáo, người được giao xác minh phải có văn bản báo cáo người giải quyết tố cáo về kết quả xác minh nội dung tố cáo và kiến nghị biện pháp xử lý.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.