Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 79/2025/NĐ-CP

Điều 32. Chế độ báo cáo về công tác kiểm tra, xử lý văn bản

Căn cứ: Điều 32, 79/2025/NĐ-CP — Nghị định 79/2025/NĐ-CP về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa và xử lý văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt

Điều 32 quy định chế độ báo cáo hằng năm về công tác kiểm tra, xử lý văn bản: Bộ Tư pháp tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ; thời hạn, thời điểm lấy số liệu theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp; và các nội dung cơ bản của báo cáo.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Hằng năm, trên cơ sở báo cáo của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, Bộ Tư pháp tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
  • ▸Thời hạn gửi báo cáo, thời điểm lấy số liệu báo cáo hằng năm thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
  • ▸Nội dung cơ bản của báo cáo gồm: số liệu văn bản (tự kiểm tra, kiểm tra theo thẩm quyền, phát hiện trái pháp luật, xử lý theo yêu cầu, xử lý theo thẩm quyền); đánh giá về công tác, quy định pháp luật, tổ chức cán bộ, kinh phí, tập huấn; khó khăn, vướng mắc và kiến nghị; danh mục văn bản trái pháp luật (nếu có).

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm Bộ Tư pháp báo cáo Quốc hội, trong khi Điều 32 quy định báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
  • Cho rằng thời hạn gửi báo cáo do Chính phủ quy định, nhưng Điều 32 giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định.
  • Bỏ sót nội dung 'danh mục văn bản trái pháp luật' trong báo cáo.

Giải thích

Điều 32 quy định chế độ báo cáo về công tác kiểm tra, xử lý văn bản. Hằng năm, trên cơ sở báo cáo của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, Bộ Tư pháp tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Thời hạn gửi báo cáo, thời điểm lấy số liệu báo cáo hằng năm thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Báo cáo hằng năm bao gồm các nội dung cơ bản: số liệu văn bản quy phạm pháp luật đã được tự kiểm tra và xử lý; số liệu văn bản đã kiểm tra theo thẩm quyền; số liệu văn bản đã phát hiện có nội dung trái pháp luật và kết luận; số liệu văn bản đã được xử lý theo yêu cầu của cơ quan kiểm tra văn bản; số liệu văn bản đã xử lý theo thẩm quyền; đánh giá về công tác kiểm tra, xử lý văn bản; quy định pháp luật về kiểm tra, xử lý văn bản; tổ chức, cán bộ; kinh phí cho công tác kiểm tra, xử lý văn bản; công tác tập huấn, hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tra, xử lý văn bản và các điều kiện bảo đảm khác; khó khăn, vướng mắc và kiến nghị; danh mục văn bản trái pháp luật về thẩm quyền, nội dung đã tự kiểm tra, phát hiện và kiểm tra, kết luận theo thẩm quyền (nếu có).
Nguyên văn Điều 32. Chế độ báo cáo về công tác kiểm tra, xử lý văn bản
1. Hằng năm, trên cơ sở báo cáo của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, Bộ Tư pháp tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. 2. Thời hạn gửi báo cáo, thời điểm lấy số liệu báo cáo hằng năm về công tác kiểm tra, xử lý văn bản thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. 3. Báo cáo hằng năm về công tác kiểm tra, xử lý văn bản bao gồm các nội dung cơ bản sau đây: a) Số liệu văn bản quy phạm pháp luật đã được tự kiểm tra và xử lý; số liệu văn bản quy phạm pháp luật đã kiểm tra theo thẩm quyền; số liệu văn bản đã phát hiện có nội dung trái pháp luật và kết luận; số liệu văn bản đã được xử lý theo yêu cầu của cơ quan kiểm tra văn bản; số liệu văn bản đã xử lý theo thẩm quyền; b) Đánh giá về công tác kiểm tra, xử lý văn bản; quy định pháp luật về kiểm tra, xử lý văn bản; tổ chức, cán bộ; kinh phí cho công tác kiểm tra, xử lý văn bản; công tác tập huấn, hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tra, xử lý văn bản và các điều kiện bảo đảm khác cho công tác kiểm tra, xử lý văn bản; c) Khó khăn, vướng mắc và kiến nghị; d) Danh mục văn bản trái pháp luật về thẩm quyền, nội dung đã tự kiểm tra, phát hiện và kiểm tra, kết luận theo thẩm quyền (nếu có).

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.