Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 88/2015/QH13

Điều 32. Hình thức và thời hạn công khai báo cáo tài chính

Căn cứ: Điều 32, 88/2015/QH13 — Luật 88/2015/QH13 Luật Kế toán

Tóm tắt

Điều 32 quy định các hình thức công khai báo cáo tài chính và thời hạn công khai đối với từng loại đơn vị kế toán. Đơn vị không sử dụng ngân sách nhà nước và đơn vị có sử dụng các khoản đóng góp của Nhân dân phải công khai trong 30 ngày kể từ ngày nộp báo cáo; đơn vị thuộc hoạt động kinh doanh công khai trong 120 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Các hình thức công khai báo cáo tài chính: phát hành ấn phẩm; thông báo bằng văn bản; niêm yết; đăng tải trên trang thông tin điện tử; các hình thức khác theo quy định của pháp luật.
  • ▸Đơn vị kế toán sử dụng ngân sách nhà nước thực hiện hình thức và thời hạn công khai theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
  • ▸Đơn vị kế toán không sử dụng ngân sách nhà nước, đơn vị kế toán có sử dụng các khoản đóng góp của Nhân dân phải công khai báo cáo tài chính năm trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nộp báo cáo tài chính.
  • ▸Đơn vị kế toán thuộc hoạt động kinh doanh phải công khai báo cáo tài chính năm trong thời hạn 120 ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm.
  • ▸Trường hợp pháp luật về chứng khoán, tín dụng, bảo hiểm có quy định cụ thể về hình thức, thời hạn công khai báo cáo tài chính khác với quy định của Luật này thì thực hiện theo quy định của pháp luật về lĩnh vực đó.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm mốc thời hạn 30 ngày (đối với đơn vị không sử dụng ngân sách nhà nước và đơn vị có sử dụng các khoản đóng góp của Nhân dân) với 120 ngày (đơn vị hoạt động kinh doanh).
  • Cho rằng đơn vị hoạt động kinh doanh luôn phải công khai trong 30 ngày; thực tế là 120 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm.
  • Bỏ qua quy định chuyên ngành: nếu pháp luật về chứng khoán, tín dụng, bảo hiểm có quy định khác thì áp dụng quy định của lĩnh vực đó.

Giải thích

Điều 32 quy định về hình thức và thời hạn công khai báo cáo tài chính. Các hình thức công khai bao gồm: phát hành ấn phẩm; thông báo bằng văn bản; niêm yết; đăng tải trên trang thông tin điện tử; và các hình thức khác theo quy định của pháp luật. Đối với đơn vị kế toán sử dụng ngân sách nhà nước, hình thức và thời hạn công khai thực hiện theo pháp luật về ngân sách nhà nước. Đối với đơn vị kế toán không sử dụng ngân sách nhà nước và đơn vị kế toán có sử dụng các khoản đóng góp của Nhân dân, thời hạn công khai báo cáo tài chính năm là 30 ngày kể từ ngày nộp báo cáo tài chính. Riêng đơn vị kế toán thuộc hoạt động kinh doanh phải công khai báo cáo tài chính năm trong thời hạn 120 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm. Nếu pháp luật về chứng khoán, tín dụng, bảo hiểm có quy định cụ thể khác về hình thức, thời hạn công khai thì áp dụng quy định của lĩnh vực đó.
Nguyên văn Điều 32. Hình thức và thời hạn công khai báo cáo tài chính
1. Việc công khai báo cáo tài chính được thực hiện theo một hoặc một số hình thức sau đây: a) Phát hành ấn phẩm; b) Thông báo bằng văn bản; c) Niêm yết; d) Đăng tải trên trang thông tin điện tử; đ) Các hình thức khác theo quy định của pháp luật. 2. Hình thức và thời hạn công khai báo cáo tài chính của đơn vị kế toán sử dụng ngân sách nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. 3. Đơn vị kế toán không sử dụng ngân sách nhà nước, đơn vị kế toán có sử dụng các khoản đóng góp của Nhân dân phải công khai báo cáo tài chính năm trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nộp báo cáo tài chính. 4. Đơn vị kế toán thuộc hoạt động kinh doanh phải công khai báo cáo tài chính năm trong thời hạn 120 ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm. Trường hợp pháp luật về chứng khoán, tín dụng, bảo hiểm có quy định cụ thể về hình thức, thời hạn công khai báo cáo tài chính khác với quy định của Luật này thì thực hiện theo quy định của pháp luật về lĩnh vực đó.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.