Nguyên văn Điều 32. Quyền quản lý, sử dụng, quyền sở hữu kết quả của nhiệm vụ
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước
1. Nhà nước giao tự động cho tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo là cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang
nhân dân; đơn vị sự nghiệp công lập, cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ
chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp (sau đây gọi là cơ
quan, tổ chức, đơn vị) quyền quản lý, sử dụng phần kết quả tương ứng với kinh phí
từ ngân sách nhà nước, không phải thực hiện thủ tục giao quyền sử dụng và bàn
giao tài sản. Cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện theo dõi riêng thông tin về kết quả,
không phải hạch toán chung vào tài sản, giá trị tài sản và vốn nhà nước tại tổ chức;
không phải xác định nguyên giá, giá trị còn lại, khấu hao, hao mòn tài sản và tự
quyết định phương án tiếp tục phát triển nghiên cứu, triển khai ứng dụng hoặc tổ
chức thương mại hóa theo quy định.
2. Nhà nước giao tự động cho tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều
này quyền sở hữu phần kết quả tương ứng với kinh phí từ ngân sách nhà nước,
không cần thực hiện thủ tục giao quyền sở hữu và bàn giao tài sản. Cơ quan, tổ
chức, đơn vị thực hiện theo dõi riêng thông tin về kết quả, không phải hạch toán
chung vào tài sản, giá trị tài sản và vốn nhà nước tại tổ chức; không phải xác định
nguyên giá, giá trị còn lại, khấu hao, hao mòn tài sản và tự quyết định phương án
tiếp tục phát triển nghiên cứu, triển khai ứng dụng hoặc tổ chức thương mại hóa
theo quy định tại Điều 27 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Cơ quan chủ quản của tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo quy định tại khoản 1, 2 Điều này có trách nhiệm tổ
chức kiểm tra, giám sát tổ chức chủ trì trong việc quản lý, sử dụng, ứng dụng,
phát triển, thương mại hóa kết quả nghiên cứu nhằm phòng, chống thất thoát,
lãng phí, tiêu cực.
3. Đối với kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh, tổ chức chủ trì không phải là cơ quan, đơn vị,
doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an theo quy định tại điểm a khoản 2
Điều 25 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trình tự giao quyền quản
lý, sử dụng, quyền sở hữu phần kết quả nhiệm vụ tương ứng với phần kinh phí sử
dụng ngân sách nhà nước được thực hiện như sau:
a) Trong thời gian 05 ngày làm việc kể từ thời điểm nhiệm vụ khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo được đánh giá cuối kỳ, cơ quan quản lý nhiệm vụ gửi
thông báo bằng văn bản đến Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, cơ quan chủ quản của tổ
chức chủ trì (nếu có) và tổ chức chủ trì về việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng kết quả
nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thuộc lĩnh vực quốc phòng, an
ninh quy định tại khoản 10 Điều 11 Nghị định này. Nội dung thông báo gồm: tên
nhiệm vụ; tên cơ quan tiếp nhận kết quả; tên tổ chức chủ trì (đơn vị giao kết quả);
kết quả bàn giao; địa chỉ dự kiến bàn giao; các nội dung khác (nếu có);
b) Trong thời gian 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan quản lý
nhiệm vụ, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm giao cho tổ chức, đơn vị
thuộc phạm vi quản lý tiếp nhận kết quả (sau đây gọi tắt là đơn vị tiếp nhận kết
quả); đồng thời gửi văn bản đến cơ quan chủ quản của tổ chức chủ trì và tổ chức
chủ trì để biết và tổ chức thực hiện bàn giao;
c) Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của Bộ Quốc phòng,
Bộ Công an, tổ chức chủ trì phải tổ chức thực hiện bàn giao kết quả. Việc bàn giao
được lập thành biên bản với những nội dung chính sau: bên giao là tổ chức chủ trì
thực hiện nhiệm vụ; bên nhận là đơn vị tiếp nhận kết quả theo quy định tại điểm b
khoản này; đại diện cơ quan của tổ chức chủ trì; đại diện cơ quan quản lý nhiệm vụ
(trong trường hợp đơn vị tiếp nhận kết quả không phải là cơ quan quản lý nhiệm
vụ); thời gian bàn giao; địa chỉ bàn giao; danh mục kết quả và tài sản là kết quả
thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực hiện bàn giao;
hồ sơ liên quan đến kết quả bàn giao (hợp đồng giao nhiệm vụ, báo cáo đánh giá
cuối kỳ nhiệm vụ và các hồ sơ liên quan đến kết quả bàn giao (nếu có); các nội
dung khác (nếu có);
d) Đơn vị tiếp nhận kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo thực hiện theo dõi, quản lý, sử dụng kết quả theo quy định tại khoản 1 và
2 Điều này; thực hiện thương mại hóa kết quả theo quy định tại Điều 33 Nghị định
này và theo quy định riêng của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an (nếu có).
4. Đối với kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng
tạo mà tổ chức chủ trì là tổ chức có yếu tố nước ngoài (tổ chức có pháp nhân nước
ngoài, tổ chức có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc phần
vốn góp) hoặc tổ chức có trụ sở chính đặt ở nước ngoài quy định tại điểm b khoản
2 Điều 25 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trình tự giao quyền quản
lý, sử dụng, quyền sở hữu phần kết quả nhiệm vụ tương ứng với phần kinh phí sử
dụng ngân sách nhà nước được thực hiện như sau:
a) Trong thời gian 10 ngày kể từ ngày nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo được đánh giá cuối kỳ, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ, cơ quan khác ở trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc giao
một tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý tiếp nhận kết quả (sau đây gọi tắt là đơn
vị tiếp nhận kết quả); đồng thời thông báo bằng văn bản đến cơ quan chủ quản của
tổ chức chủ trì (nếu có) và tổ chức chủ trì để biết và tổ chức thực hiện bàn giao;
b) Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của bộ, cơ quan
ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương và Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh, tổ chức chủ trì phải tổ chức thực hiện bàn giao kết quả. Việc bàn giao
được lập thành biên bản với những nội dung chính sau: bên giao là tổ chức chủ trì
thực hiện nhiệm vụ; bên nhận là đơn vị tiếp nhận kết quả theo quy định tại điểm a
khoản này; đại diện cơ quan chủ quản của tổ chức chủ trì; đại diện cơ quan quản lý
nhiệm vụ (trong trường hợp đơn vị tiếp nhận kết quả không phải là cơ quan quản
lý nhiệm vụ); thời gian bàn giao; địa chỉ bàn giao; danh mục kết quả thực hiện bàn
giao; hồ sơ liên quan đến kết quả bàn giao (hợp đồng giao nhiệm vụ, báo cáo đánh
giá cuối kỳ nhiệm vụ và các hồ sơ liên quan đến kết quả bàn giao, nếu có); các nội
dung khác (nếu có);
c) Đơn vị tiếp nhận kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng
tạo thực hiện việc theo dõi, quản lý, sử dụng kết quả theo quy định tại khoản 1 và 2
Điều này; thực hiện thương mại hóa kết quả theo quy định tại Điều 33 Nghị định
này và theo quy định riêng của cơ quan mình (nếu có);
d) Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương
và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo định kỳ 02 năm một lần chịu trách nhiệm tổ chức
kiểm tra, đánh giá việc quản lý, sử dụng, thương mại hóa các kết quả nghiên cứu
của nhiệm vụ đã giao theo quy định tại điểm a khoản này.
5. Đối với kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo do
nhà nước đặt hàng theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 25 Luật Khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo, cơ quan đặt hàng có trách nhiệm tiếp nhận, tự quyết định
việc tổ chức, khai thác, ứng dụng, sử dụng kết quả theo đúng mục đích đặt hàng
thực hiện nhiệm vụ. Trình tự giao quyền quản lý, sử dụng, quyền sở hữu phần kết
quả nhiệm vụ tương ứng với phần kinh phí sử dụng ngân sách nhà nước được thực
hiện như sau:
a) Trong thời gian 05 ngày làm việc kể từ thời điểm nhiệm vụ khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo được đánh giá cuối kỳ, cơ quan quản lý nhiệm vụ gửi
thông báo bằng văn bản đến cơ quan đặt hàng, cơ quan chủ quản của tổ chức chủ
trì (nếu có) và tổ chức chủ trì về việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng kết quả nhiệm vụ
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được quy định tại điểm b khoản 3 Điều
10 Nghị định này. Nội dung thông báo gồm: tên nhiệm vụ; tên cơ quan đặt hàng
(đơn vị tiếp nhận kết quả); tên tổ chức chủ trì (đơn vị giao kết quả); kết quả bàn
giao; địa chỉ dự kiến bàn giao; các nội dung khác (nếu có);
b) Trong thời gian 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan quản lý
nhiệm vụ, cơ quan đặt hàng có trách nhiệm giao cho tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi
quản lý tiếp nhận kết quả (sau đây gọi tắt là đơn vị tiếp nhận kết quả); đồng thời
gửi văn bản đến cơ quan chủ quản của tổ chức chủ trì và tổ chức chủ trì để biết và
tổ chức thực hiện bàn giao;
c) Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan đặt hàng,
tổ chức chủ trì phải tổ chức thực hiện bàn giao kết quả. Việc bàn giao được lập
thành biên bản với những nội dung chính sau: bên giao là tổ chức chủ trì thực hiện
nhiệm vụ; bên nhận là đơn vị tiếp nhận kết quả theo quy định tại điểm b khoản
này; đại diện cơ quan chủ quản của tổ chức chủ trì; đại diện cơ quan quản lý nhiệm
vụ (trong trường hợp đơn vị tiếp nhận kết quả không phải là cơ quan quản lý
nhiệm vụ); thời gian bàn giao; địa chỉ bàn giao; kết quả và danh mục tài sản là kết
quả thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực hiện bàn
giao; hồ sơ liên quan đến kết quả bàn giao (hợp đồng giao nhiệm vụ, báo cáo đánh
giá cuối kỳ nhiệm vụ và các hồ sơ liên quan đến kết quả bàn giao (nếu có); các nội
dung khác (nếu có);
d) Đơn vị tiếp nhận kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo thực hiện theo dõi, quản lý, sử dụng kết quả theo quy định tại khoản 1 và
2 Điều này; thực hiện thương mại hóa kết quả theo quy định tại Điều 33 Nghị định
này và theo quy định riêng của cơ quan mình (nếu có).
6. Cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quyền quản lý, sử dụng, quyền sở hữu
kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được quy định tại
các khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều này có quyền đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo
quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
7. Việc nhà nước cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng kết quả nhiệm vụ
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng toàn bộ ngân sách nhà nước theo
quy định tại điểm a khoản 5 Điều 25 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng
tạo được thực hiện như sau:
a) Trong trường hợp kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo đã được giao quyền quản lý, sử dụng, quyền sở hữu quy định tại các
khoản 1, 2, 4 Điều này, căn cứ nhu cầu và tình hình thực tiễn, bộ, cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương và Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh quyết định hoặc giao cơ quan quản lý nhiệm vụ thuộc phạm vi quản lý quyết
định việc cho phép một hoặc nhiều tổ chức, cá nhân khác sử dụng kết quả nhiệm
vụ do cơ quan quản lý nhiệm vụ phê duyệt để thực hiện ứng dụng kết quả nhiệm
vụ; đồng thời gửi thông báo bằng văn bản đến cơ quan chủ quản của tổ chức chủ
trì (nếu có), tổ chức, cá nhân đã được giao quyền quản lý, sử dụng, quyền sở hữu
kết quả biết để phối hợp cung cấp thông tin về kết quả nghiên cứu cho tổ chức, cá
nhân khác được cho phép;
Quyết định cho phép bao gồm các thông tin về kết quả nhiệm vụ; tên nhiệm
vụ; tổ chức, cá nhân được cho phép sử dụng; thời gian cho phép sử dụng; trách
nhiệm, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đã được giao quyền quản lý, sử dụng, sở hữu
kết quả và tổ chức, cá nhân khác được cho phép sử dụng kết quả; các thông tin
khác (nếu cần);
b) Trong trường hợp kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo đã được giao quyền quản lý, sử dụng quy định tại khoản 3 Điều này, căn
cứ nhu cầu và tình hình thực tiễn, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quyết định hoặc
giao cơ quan quản lý nhiệm vụ thuộc phạm vi quản lý quyết định việc cho phép
một hoặc nhiều tổ chức, cá nhân khác sử dụng kết quả nhiệm vụ do cơ quan quản
lý nhiệm vụ phê duyệt để thực hiện ứng dụng kết quả nhiệm vụ; đồng thời gửi
thông báo bằng văn bản đến cơ quan chủ quản của tổ chức chủ trì (nếu có), tổ
chức, cá nhân đã được giao quyền quản lý, sử dụng, quyền sở hữu kết quả biết để
phối hợp cung cấp thông tin về kết quả nghiên cứu cho tổ chức, cá nhân được cho
phép. Quyết định cho phép gồm các nội dung quy định tại điểm a khoản này;
c) Trong trường hợp kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo đã được giao quyền quản lý, sử dụng quy định tại điểm a khoản 5 Điều 25
Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, căn cứ nhu cầu và tình hình thực
tiễn, cơ quan đặt hàng quyết định hoặc giao cơ quan quản lý nhiệm vụ thuộc phạm
vi quản lý quyết định việc cho phép một hoặc nhiều tổ chức, cá nhân khác sử dụng
kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để ứng dụng kết
quả. Quyết định cho phép gồm các nội dung quy định tại điểm a khoản này.
8. Việc nhà nước thu hồi kết quả nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo sử dụng toàn bộ ngân sách nhà nước quy định tại điểm b khoản 5 Điều 25
Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và giao cho tổ chức, cá nhân khác
có nhu cầu để tiếp tục phát triển, ứng dụng, trừ trường hợp kết quả đã bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện như sau:
a) Tổ chức có nhu cầu ứng dụng kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và
đổi mới sáng tạo (sau đây gọi tắt là đơn vị có nhu cầu ứng dụng kết quả) gửi văn
bản đến cơ quan quản lý nhiệm vụ kèm theo phương án ứng dụng kết quả nghiên
cứu, các hồ sơ chứng minh năng lực của tổ chức;
b) Trong vòng 30 ngày kể từ thời điểm nhận được văn bản của đơn vị có nhu
cầu ứng dụng kết quả, cơ quan quản lý nhiệm vụ căn cứ vào báo cáo tình hình ứng
dụng kết quả nhiệm vụ của tổ chức chủ trì trên cổng dịch vụ công trực tuyến/Nền
tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia và hồ sơ quy
định tại điểm a khoản này quyết định việc cho phép tổ chức, cá nhân phát triển,
ứng dụng kết quả nhiệm vụ;
Trong trường hợp cần thiết, cơ quan quản lý nhiệm vụ có thể thành lập hội
đồng hoặc tổ chuyên gia đánh giá khả năng ứng dụng của đơn vị có nhu cầu ứng
dụng kết quả để tư vấn trước khi quyết định. Số lượng thành viên, thành phần
của hội đồng hoặc tổ chuyên gia do cơ quan quản lý nhiệm vụ quyết định, trong
đó bắt buộc phải có ít nhất 02 thành viên đã tham gia hội đồng xét tài trợ, đặt
hàng nhiệm vụ;
c) Sau khi được giao kết quả nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng
tạo, đơn vị có nhu cầu ứng dụng kết quả thực hiện theo dõi, quản lý, sử dụng kết
quả theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều này; thực hiện thương mại hóa kết quả
theo quy định tại Điều 33 Nghị định này.