Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 61/2024/QH15

Điều 35. Thời hạn của giấy phép hoạt động điện lực

Căn cứ: Điều 35, 61/2024/QH15 — Luật Điện lực số 61/2024/QH15

Tóm tắt

Điều 35 quy định thời hạn của giấy phép hoạt động điện lực được cấp không vượt quá thời hạn hoạt động của dự án, công trình phát điện, truyền tải điện, phân phối điện. Chính phủ quy định chi tiết thời hạn theo từng lĩnh vực và từng trường hợp cấp giấy phép.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Thời hạn giấy phép không vượt quá thời hạn hoạt động của dự án, công trình.
  • ▸Áp dụng cho dự án, công trình phát điện, truyền tải điện, phân phối điện.
  • ▸Chính phủ quy định chi tiết thời hạn theo từng lĩnh vực hoạt động và từng trường hợp cấp giấy phép.

Lưu ý dễ nhầm

  • Cho rằng thời hạn giấy phép có thể dài hơn thời hạn hoạt động của dự án, công trình.
  • Nhầm lẫn giữa thời hạn giấy phép và thời hạn của dự án.

Giải thích

Điều 35 Luật Điện lực số 61/2024/QH15 quy định về thời hạn của giấy phép hoạt động điện lực. Theo đó, thời hạn của giấy phép được cấp không được vượt quá thời hạn hoạt động của dự án, công trình phát điện, truyền tải điện, phân phối điện. Chính phủ quy định chi tiết thời hạn của giấy phép hoạt động điện lực theo từng lĩnh vực hoạt động và trong từng trường hợp cấp giấy phép hoạt động điện lực theo quy định của Luật này. Điều này đảm bảo giấy phép gắn với vòng đời dự án, tránh cấp phép dài hơn thời gian hoạt động thực tế.
Nguyên văn Điều 35. Thời hạn của giấy phép hoạt động điện lực
1. Thời hạn của giấy phép hoạt động điện lực được cấp không được vượt quá thời hạn hoạt động của dự án, công trình phát điện, truyền tải điện, phân phối điện. 2. Chính phủ quy định chi tiết thời hạn của giấy phép hoạt động điện lực theo từng lĩnh vực hoạt động và trong từng trường hợp cấp giấy phép hoạt động điện lực theo quy định của Luật này.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.