Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 37/2026/NĐ-CP

Điều 39. Ngôn ngữ trình bày nhãn hàng hóa

Căn cứ: Điều 39, 37/2026/NĐ-CP — Nghị định 37/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa

Tóm tắt

Điều 39 quy định nội dung bắt buộc trên nhãn hàng hóa lưu thông tại Việt Nam phải ghi bằng tiếng Việt, trừ hàng xuất khẩu không tiêu thụ trong nước và trường hợp khoản 4. Hàng sản xuất trong nước có thể ghi thêm ngôn ngữ khác với điều kiện không mâu thuẫn, không gây hiểu nhầm và kích thước chữ không lớn hơn tiếng Việt. Hàng nhập khẩu thiếu nội dung tiếng Việt phải có nhãn phụ.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Nội dung bắt buộc trên nhãn hàng hóa lưu thông tại Việt Nam phải ghi bằng tiếng Việt.
  • ▸Ngoại lệ: hàng hóa xuất khẩu không tiêu thụ trong nước; trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 39.
  • ▸Tên riêng tổ chức, cá nhân và địa danh không được viết tắt; từ chỉ đơn vị hành chính có thể viết tắt.
  • ▸Tên nước hoặc vùng lãnh thổ sản xuất/nơi hoàn thiện hàng hóa không được viết tắt.
  • ▸Hàng sản xuất trong nước được ghi thêm ngôn ngữ khác, nhưng không mâu thuẫn/làm sai lệch tiếng Việt, không gây hiểu nhầm; kích thước chữ ngôn ngữ khác không lớn hơn chữ tiếng Việt.
  • ▸Hàng nhập khẩu chưa đủ nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt phải có nhãn phụ tiếng Việt và giữ nguyên nhãn gốc; nội dung tiếng Việt phải tương ứng nhãn gốc.
  • ▸Khoản 4: các nội dung được phép ghi bằng ngôn ngữ khác gốc chữ cái La tinh: tên quốc tế/khoa học khi không có tên tiếng Việt; tên quốc tế/khoa học kèm công thức hóa học, dược chất...; tên quốc tế/khoa học thành phần không dịch được hoặc dịch không có nghĩa; tên và địa chỉ doanh nghiệp nước ngoài; tên quốc tế nước/vùng lãnh thổ không phiên âm được hoặc phiên âm không có nghĩa; tên sản phẩm văn hóa nghệ thuật, tên tác giả, đoàn nghệ thuật.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm hàng xuất khẩu không tiêu thụ trong nước vẫn phải ghi tiếng Việt.
  • Nhầm kích thước chữ ngôn ngữ khác được lớn hơn chữ tiếng Việt.
  • Nhầm nhãn phụ phải dịch toàn bộ nhãn gốc, trong khi chỉ dịch nội dung bắt buộc và bổ sung nội dung còn thiếu.

Giải thích

Điều 39 quy định ngôn ngữ trên nhãn hàng hóa. Nguyên tắc chung: nội dung bắt buộc trên nhãn hàng hóa lưu thông tại Việt Nam phải ghi bằng tiếng Việt. Có hai ngoại lệ: hàng hóa xuất khẩu không tiêu thụ trong nước và các trường hợp tại khoản 4 Điều này. Về tên riêng, tên tổ chức, cá nhân và địa danh không được viết tắt; riêng từ chỉ đơn vị hành chính có thể viết tắt. Tên nước hoặc vùng lãnh thổ sản xuất/nơi hoàn thiện hàng hóa cũng không được viết tắt. Hàng sản xuất và lưu thông trong nước được ghi thêm ngôn ngữ khác, nhưng không bắt buộc dịch toàn bộ tiếng Việt, không được mâu thuẫn hoặc làm sai lệch nội dung tiếng Việt, không gây hiểu nhầm về bản chất, công dụng, xuất xứ; kích thước chữ ngôn ngữ khác không được lớn hơn chữ tiếng Việt. Hàng nhập khẩu nếu nhãn chưa thể hiện hoặc chưa đủ nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt thì phải có nhãn phụ tiếng Việt, giữ nguyên nhãn gốc, nội dung tiếng Việt tương ứng nhãn gốc. Khoản 4 liệt kê các nội dung được phép ghi bằng ngôn ngữ khác gốc chữ cái La tinh, như tên quốc tế/khoa học khi không có tên tiếng Việt, tên và địa chỉ doanh nghiệp nước ngoài, tên sản phẩm văn hóa nghệ thuật...
Nguyên văn Điều 39. Ngôn ngữ trình bày nhãn hàng hóa
1. Những nội dung bắt buộc thể hiện trên nhãn hàng hóa lưu thông tại thị trường Việt Nam phải ghi bằng tiếng Việt, trừ hàng hóa xuất khẩu không tiêu thụ trong nước và trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này. Tên riêng của tổ chức, cá nhân và địa danh ghi trên nhãn hàng hóa lưu thông tại thị trường Việt Nam không được viết tắt. Từ chỉ đơn vị hành chính có thể viết tắt. Tên nước hoặc vùng lãnh thổ sản xuất ra hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn cuối cùng để hoàn thiện hàng hóa ghi trên nhãn hàng hóa lưu thông tại thị trường Việt Nam không được viết tắt. 2. Hàng hóa được sản xuất và lưu thông trong nước, ngoài việc thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này, nội dung thể hiện trên nhãn có thể được ghi thêm bằng ngôn ngữ khác, nội dung bằng ngôn ngữ khác không bắt buộc phải dịch toàn bộ tiếng Việt, không được mâu thuẫn hoặc làm sai lệch nội dung tiếng Việt, không được gây hiểu nhầm về bản chất, công dụng, xuất xứ hàng hóa; kích thước chữ của ngôn ngữ khác không được lớn hơn kích thước chữ tiếng Việt. 3. Hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam mà trên nhãn chưa thể hiện hoặc thể hiện chưa đủ những nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt thì phải có nhãn phụ thể hiện những nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt và giữ nguyên nhãn gốc của hàng hóa. Nội dung ghi bằng tiếng Việt phải tương ứng với nội dung ghi trên nhãn gốc. 4. Các nội dung sau được phép ghi bằng các ngôn ngữ khác có gốc chữ cái La tinh: a) Tên quốc tế hoặc tên khoa học trong trường hợp không có tên tiếng Việt; b) Tên quốc tế hoặc tên khoa học kèm công thức hóa học, công thức cấu tạo của hóa chất, dược chất, tá dược, thành phần của thuốc; c) Tên quốc tế hoặc tên khoa học của thành phần, thành phần định lượng của hàng hóa trong trường hợp không dịch được ra tiếng Việt hoặc dịch được ra tiếng Việt nhưng không có nghĩa; d) Tên và địa chỉ doanh nghiệp nước ngoài; đ) Tên quốc tế của nước hoặc vùng lãnh thổ không thể phiên âm được ra tiếng Việt hoặc phiên âm được ra tiếng Việt nhưng không có nghĩa; e) Tên sản phẩm văn hóa nghệ thuật, tên tác giả, đoàn nghệ thuật.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.