Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 154/2026/NĐ-CP

Điều 40. Nguyên tắc xử lý hành vi vi phạm

Căn cứ: Điều 40, 154/2026/NĐ-CP — Nghị định 154/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tiếp công dân

Tóm tắt

Điều 40 quy định nguyên tắc xử lý đối với hai nhóm chủ thể: người có trách nhiệm tiếp công dân khi vi phạm pháp luật về tiếp công dân và người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh cùng người có liên quan khi vi phạm các khoản 4, 5, 6, 7, 8 Điều 6 Luật Tiếp công dân. Tùy tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự và/hoặc bồi thường, bồi hoàn theo pháp luật.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Người có trách nhiệm tiếp công dân vi phạm bị xử lý kỷ luật theo Điều 41 và Điều 42 Nghị định 154/2026/NĐ-CP.
  • ▸Nếu có dấu hiệu tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
  • ▸Nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường hoặc bồi hoàn theo quy định của pháp luật.
  • ▸Nội dung xử lý kỷ luật chưa quy định tại Nghị định này thì áp dụng pháp luật về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức.
  • ▸Người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và người có liên quan vi phạm khoản 4, 5, 6, 7, 8 Điều 6 Luật Tiếp công dân bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
  • ▸Người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và người có liên quan nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa xử lý kỷ luật (đối với người có trách nhiệm tiếp công dân) và xử lý vi phạm hành chính (đối với người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh).
  • Bỏ sót trường hợp phải bồi thường hoặc bồi hoàn khi gây thiệt hại.

Giải thích

Điều 40 đặt ra nguyên tắc xử lý vi phạm trong lĩnh vực tiếp công dân. Đối với người có trách nhiệm tiếp công dân, nếu vi phạm pháp luật về tiếp công dân thì tùy tính chất, mức độ mà bị xử lý kỷ luật theo Điều 41 và Điều 42 của Nghị định 154/2026/NĐ-CP. Nếu có dấu hiệu tội phạm, họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường hoặc bồi hoàn. Những nội dung về xử lý kỷ luật chưa được quy định trong Nghị định này sẽ thực hiện theo pháp luật về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức. Đối với người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và người có liên quan, nếu vi phạm các khoản 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 6 Luật Tiếp công dân thì tùy tính chất, mức độ sẽ bị xử lý vi phạm hành chính theo Luật Xử lý vi phạm hành chính và các nghị định xử phạt trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội, công nghệ thông tin, an toàn thông tin mạng… hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Nguyên văn Điều 40. Nguyên tắc xử lý hành vi vi phạm
1. Người có trách nhiệm tiếp công dân mà có hành vi vi phạm pháp luật về tiếp công dân thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Điều 41 và Điều 42 của Nghị định này. Nếu có dấu hiệu tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trường hợp gây thiệt hại thì phải bồi thường hoặc bồi hoàn theo quy định của pháp luật. Nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục và các nội dung khác có liên quan đến việc xử lý kỷ luật người có trách nhiệm tiếp công dân mà có vi phạm pháp luật tiếp công dân nhưng chưa được quy định tại Nghị định này thì thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức. 2. Người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và những người có liên quan có hành vi vi phạm quy định tại các khoản 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 6 Luật Tiếp công dân thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và các nghị định xử phạt vi phạm hành chính của Chính phủ trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội, công nghệ thông tin, an toàn, thông tin mạng… hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.