Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 19/2023/QH15

Điều 41. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp dịch vụ liên tục

Căn cứ: Điều 41, 19/2023/QH15 — Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 19/2023/QH15

Tóm tắt

Điều 41 quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp dịch vụ liên tục trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm thông báo đại diện pháp lý, không yêu cầu thanh toán trước, không đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, thông báo trước khi ngừng dịch vụ, kiểm tra chất lượng dịch vụ và tuân thủ Điều 37, 38 khi giao dịch từ xa.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Phải thông báo công khai về đại diện theo pháp luật tại Việt Nam; nếu không có thì chỉ định đại diện theo ủy quyền và thông báo công khai.
  • ▸Không được yêu cầu người tiêu dùng thanh toán trước khi dịch vụ được cung cấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
  • ▸Không được đơn phương chấm dứt hợp đồng, ngừng cung cấp dịch vụ không đúng hợp đồng hoặc trái pháp luật.
  • ▸Khi buộc phải ngừng dịch vụ để sửa chữa, bảo trì hoặc lý do khác, phải thông báo trước chậm nhất 03 ngày làm việc trước ngày ngừng, trừ bất khả kháng.
  • ▸Thường xuyên kiểm tra chất lượng dịch vụ, bảo đảm như đã cam kết.
  • ▸Thực hiện Điều 37 và Điều 38 khi cung cấp dịch vụ liên tục qua giao dịch từ xa.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm thời hạn thông báo ngừng dịch vụ là 07 ngày, thực tế là 03 ngày làm việc (Điều 41), còn Điều 42 có thời hạn 07 ngày cho thông báo nộp phí và kết thúc hợp đồng.
  • Cho rằng luôn được yêu cầu thanh toán trước, trong khi chỉ được nếu có thỏa thuận khác.

Giải thích

Điều 41 đặt ra trách nhiệm cho tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp dịch vụ liên tục trên lãnh thổ Việt Nam. Họ phải thông báo công khai về đại diện theo pháp luật tại Việt Nam; nếu không có thì phải chỉ định đại diện theo ủy quyền và thông báo công khai. Đại diện này có trách nhiệm thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Không được yêu cầu người tiêu dùng thanh toán trước khi dịch vụ được cung cấp, trừ khi có thỏa thuận khác. Không được đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc ngừng dịch vụ trái quy định; nếu buộc phải ngừng để sửa chữa, bảo trì hoặc lý do khác, phải thông báo trước chậm nhất 03 ngày làm việc, trừ bất khả kháng. Phải thường xuyên kiểm tra chất lượng dịch vụ như cam kết và thực hiện Điều 37, 38 khi giao dịch từ xa.
Nguyên văn Điều 41. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp dịch vụ
liên tục 1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp dịch vụ liên t ục trên lãnh thổ Việt Nam có trách nhiệm thông báo công khai về đại diện theo pháp luật tại Việt Nam. Trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp dịch vụ liên tục trên lãnh thổ Việt Nam không có đại diện theo pháp luật tại Việt Nam thì phải chỉ định đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam và thông báo công khai về đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam. Đại diện của tổ chức, cá nhân kinh doanh có trách nhiệm thực hi ện quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. 2. Không được yêu cầu người tiêu dùng thanh toán bất kỳ khoản tiền nào trước khi dịch vụ được cung cấp đến người tiêu dùng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. 70 CÔNG BÁO/Số 865 + 866/Ngày 30-7-2023 3. Không được đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, ngừng cung cấp dịch vụ không đúng hợp đồng hoặc trái quy định của pháp luật. Trường hợp cần sửa chữa, bảo trì hoặc vì lý do khác bắt buộc phải ngừng cung cấp dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp dịch vụ phải thông báo trước cho người tiêu dùng về thời gian ngừng cung cấp dịch vụ và th ời gian cung cấp lại dịch vụ chậm nhất là 03 ngày làm việc trước ngày ngừng cung cấp dịch vụ, trừ trường hợp bất khả kháng. 4. Thường xuyên kiểm tra chất lượng dịch vụ mà mình cung cấp, bảo đảm chất lượng dịch vụ như đã cam kết với người tiêu dùng. 5. Thực hiện quy định tại Điều 37 và Điều 38 của Luật này trong trường hợp cung cấp dịch vụ liên tục thông qua giao dịch từ xa.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.