Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 37/2026/NĐ-CP

Điều 41. Trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa

Căn cứ: Điều 41, 37/2026/NĐ-CP — Nghị định 37/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa

Tóm tắt

Điều 41 Nghị định 37/2026/NĐ-CP quy định trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử và chủ quản nền tảng. Nguyên tắc chung là ghi nhãn trung thực, rõ ràng, chính xác, phản ánh đúng bản chất hàng hóa. Điều này cũng làm rõ trách nhiệm trong trường hợp đặt gia công, hàng xuất khẩu bị trả lại, và yêu cầu cụ thể đối với thương mại điện tử.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm ghi nhãn phải bảo đảm nhãn trung thực, rõ ràng, chính xác, phản ánh đúng bản chất hàng hóa.
  • ▸Hàng hóa sản xuất để lưu thông trong nước: nhà sản xuất chịu trách nhiệm ghi nhãn; nếu thuê gia công theo yêu cầu và tiêu chuẩn của mình thì bên đặt hàng chịu trách nhiệm về nhãn, bên gia công chỉ ghi nhãn theo yêu cầu và không chịu trách nhiệm về nhãn.
  • ▸Hàng hóa xuất khẩu không xuất khẩu được hoặc bị trả lại, đưa ra lưu thông trên thị trường: tổ chức, cá nhân đưa hàng ra lưu thông phải ghi nhãn theo Nghị định này.
  • ▸Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam phải ghi nhãn theo quy định về nội dung bắt buộc trên nhãn hàng hóa nhập khẩu tại Nghị định này.
  • ▸Tổ chức, cá nhân kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử phải: công khai toàn bộ nội dung nhãn (trừ thông tin riêng biệt như ngày sản xuất, hạn sử dụng, số lô, số khung, số máy); khai báo, cập nhật thông tin hàng hóa; bảo đảm hàng giao đến người tiêu dùng có nhãn đúng quy định.
  • ▸Chủ quản nền tảng thương mại điện tử phải: bảo đảm hàng hóa được khai báo thông tin ghi nhãn đầy đủ và hiển thị công khai; cung cấp, chia sẻ dữ liệu tối thiểu để kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia; lưu trữ đầy đủ, an toàn, bảo mật dữ liệu về nhãn hàng hóa và thông tin liên quan tối thiểu 05 năm.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn trách nhiệm giữa bên đặt gia công và bên nhận gia công: bên đặt hàng chịu trách nhiệm về nhãn hàng hóa, bên gia công không phải là tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về nhãn.
  • Cho rằng hàng hóa kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử không cần công khai nhãn hoặc có thể bỏ qua một số thông tin bắt buộc, trong khi Điều 41 yêu cầu công khai toàn bộ nội dung nhãn (trừ các thông tin riêng biệt được liệt kê).
  • Nhầm thời hạn lưu trữ dữ liệu của chủ quản nền tảng: phải lưu trữ tối thiểu 05 năm, không phải 1 năm hay 3 năm.

Giải thích

Điều 41 Nghị định 37/2026/NĐ-CP quy định trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa. Theo khoản 1, tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm ghi nhãn phải bảo đảm nhãn trung thực, rõ ràng, chính xác, phản ánh đúng bản chất hàng hóa. Khoản 2 nêu rõ: hàng hóa sản xuất trong nước do nhà sản xuất chịu trách nhiệm ghi nhãn; nếu đặt gia công theo yêu cầu và tiêu chuẩn của mình thì bên đặt hàng chịu trách nhiệm về nhãn, bên gia công chỉ ghi nhãn theo yêu cầu và không chịu trách nhiệm về nhãn. Khoản 3 quy định hàng xuất khẩu không xuất khẩu được hoặc bị trả lại, khi đưa ra lưu thông trên thị trường, tổ chức, cá nhân đưa hàng ra lưu thông phải ghi nhãn theo Nghị định. Khoản 4 yêu cầu tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam phải ghi nhãn theo quy định về nội dung bắt buộc trên nhãn hàng hóa nhập khẩu. Khoản 5 quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử: công khai toàn bộ nội dung nhãn (trừ một số thông tin riêng biệt), khai báo, cập nhật thông tin hàng hóa, bảo đảm hàng giao đến người tiêu dùng có nhãn đúng quy định. Khoản 6 quy định trách nhiệm của chủ quản nền tảng thương mại điện tử: bảo đảm hàng hóa được khai báo thông tin ghi nhãn đầy đủ và hiển thị công khai; cung cấp, chia sẻ dữ liệu tối thiểu để kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia; lưu trữ đầy đủ, an toàn, bảo mật dữ liệu về nhãn hàng hóa và thông tin liên quan tối thiểu 05 năm.
Nguyên văn Điều 41. Trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa
1. Tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa kể cả nhãn phụ phải bảo đảm ghi nhãn trung thực, rõ ràng, chính xác, phản ánh đúng bản chất của hàng hóa. 2. Hàng hóa sản xuất để lưu thông trong nước thì tổ chức, cá nhân sản xuất phải chịu trách nhiệm thực hiện ghi nhãn hàng hóa. Trong trường hợp tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa yêu cầu tổ chức, cá nhân khác thực hiện việc ghi nhãn thì tổ chức, cá nhân đó vẫn phải chịu trách nhiệm về nhãn hàng hóa của mình. Trường hợp tổ chức, cá nhân đặt gia công sản xuất sản phẩm, hàng hóa theo yêu cầu và tiêu chuẩn chất lượng của mình thì tổ chức, cá nhân đặt hàng có trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa, chịu trách nhiệm về hàng hóa và nội dung ghi nhãn hàng hóa. Tổ chức, cá nhân thực hiện gia công được ghi nhãn theo yêu cầu của bên đặt hàng nhưng không phải là tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về nhãn hàng hóa. 3. Trong trường hợp hàng hóa xuất khẩu không xuất khẩu được hoặc bị trả lại, đưa ra lưu thông trên thị trường thì tổ chức, cá nhân đưa hàng hóa ra lưu thông phải ghi nhãn theo quy định của Nghị định này. 4. Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam phải ghi nhãn theo quy định về nội dung bắt buộc thể hiện trên nhãn hàng hóa nhập khẩu tại Nghị định này. 5. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa trên nền tảng thương mại điện tử trên lãnh thổ Việt Nam có trách nhiệm: a) Công khai toàn bộ nội dung nhãn hàng hóa, nhãn điện tử (nếu có), trừ các thông tin có tính chất riêng biệt theo sản phẩm như: năm, tháng, ngày sản xuất; hạn sử dụng; số lô sản xuất; số khung, số máy trên nền tảng thương mại điện tử; b) Khai báo, cập nhật chính xác thông tin hàng hóa lên hệ thống bán hàng theo quy định pháp luật về thương mại điện tử và bảo vệ người tiêu dùng; c) Bảo đảm hàng hóa khi giao đến tay người tiêu dùng phải có nhãn hàng hóa theo đúng quy định. 6. Chủ quản nền tảng thương mại điện tử có trách nhiệm: a) Bảo đảm hàng hóa kinh doanh trên nền tảng được khai báo thông tin ghi nhãn đầy đủ, hiển thị công khai nhãn hàng hóa, nhãn điện tử (nếu có) khi đăng bán sản phẩm, hàng hóa; b) Cung cấp, chia sẻ dữ liệu tối thiểu để kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, bao gồm: thông tin về tổ chức, cá nhân kinh doanh trên nền tảng; dữ liệu về nhãn hàng hóa; thông tin phản ánh từ người tiêu dùng có liên quan đến nhãn hàng hóa và chất lượng sản phẩm, hàng hóa; c) Lưu trữ đầy đủ, an toàn và bảo mật dữ liệu về nhãn hàng hóa và các thông tin liên quan trong quá trình kinh doanh trên nền tảng, bao gồm thông tin về người bán, hợp đồng điện tử, chứng từ, hóa đơn, tài liệu chứng minh tính hợp pháp của nhãn hàng hóa, tài liệu công bố và chứng nhận chất lượng, cùng dữ liệu giao dịch. Thời hạn lưu trữ tối thiểu là 05 năm để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.