Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 33/2024/QH15

Điều 42. Công khai danh mục hồ sơ, tài liệu lưu trữ

Căn cứ: Điều 42, 33/2024/QH15 — Luật Lưu trữ số 33/2024/QH15

Tóm tắt

Quy định việc công khai danh mục hồ sơ, tài liệu lưu trữ thuộc khoản 1 Điều 40 trên cổng/trang thông tin điện tử và trách nhiệm của người đứng đầu.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Danh mục hồ sơ, tài liệu lưu trữ thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 40 phải được công khai trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của lưu trữ lịch sử, cơ quan, tổ chức quản lý tài liệu lưu trữ.
  • ▸Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, lưu trữ lịch sử có trách nhiệm công khai danh mục hồ sơ, tài liệu lưu trữ.

Lưu ý dễ nhầm

  • Cho rằng chỉ lưu trữ lịch sử mới có trách nhiệm công khai, trong khi cơ quan, tổ chức cũng có trách nhiệm.

Giải thích

Điều 42 Luật Lưu trữ số 33/2024/QH15 quy định về công khai danh mục hồ sơ, tài liệu lưu trữ. Khoản 1 buộc danh mục hồ sơ, tài liệu lưu trữ thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này phải được công khai trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của lưu trữ lịch sử, cơ quan, tổ chức quản lý tài liệu lưu trữ. Khoản 2 giao trách nhiệm cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức, lưu trữ lịch sử công khai danh mục hồ sơ, tài liệu lưu trữ. Điều này bảo đảm tính minh bạch và tiếp cận thông tin đối với các tài liệu có giá trị đặc biệt theo khoản 1 Điều 40.
Nguyên văn Điều 42. Công khai danh mục hồ sơ, tài liệu lưu trữ
1. Danh mục hồ sơ, tài liệu lưu trữ thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này phải được công khai trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của lưu trữ lịch sử , cơ quan, tổ chức quản lý tài liệu lưu trữ. 2. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, lưu trữ lịch sử có trách nhiệm công khai danh mục hồ sơ, tài liệu lưu trữ.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.