Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 156/2018/NĐ-CP

Điều 44. Bồi thường thiệt hại về rừng khi thu hồi rừng không đúng thẩm quyền hoặc không đúng đối tượng

Căn cứ: Điều 44, 156/2018/NĐ-CP — Nghị định 156/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp

Tóm tắt

Điều 44 quy định trách nhiệm của UBND cấp có thẩm quyền thu hồi rừng trong việc thành lập hội đồng định giá để xác định tiền thuê rừng còn lại và giá trị lâm sản tăng thêm, rừng trồng, tài sản khác do chủ rừng đầu tư hợp pháp không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước. Những giá trị này thuộc sở hữu của chủ rừng và được Nhà nước bồi thường theo pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Điều luật cũng quy định trường hợp rừng đã chuyển nhượng quyền sở hữu rừng trồng thì được bồi thường, và trường hợp rừng đã thế chấp, bảo lãnh, góp vốn thì quyền lợi của bên nhận được giải quyết theo pháp luật dân sự.

Ý chính cần nhớ

  • ▸UBND cấp có thẩm quyền thu hồi rừng thành lập hội đồng định giá.
  • ▸Hội đồng xác định tiền thuê rừng còn lại (nếu tiền đã nộp không từ ngân sách nhà nước).
  • ▸Hội đồng xác định giá trị lâm sản tăng thêm, giá trị rừng trồng, tài sản khác do chủ rừng đầu tư hợp pháp không từ ngân sách nhà nước.
  • ▸Các giá trị này thuộc sở hữu của chủ rừng và được Nhà nước bồi thường theo quy định.
  • ▸Trường hợp rừng trồng đã chuyển nhượng quyền sở hữu thì được bồi thường theo khoản 2.
  • ▸Trường hợp rừng trồng đã thế chấp, bảo lãnh, góp vốn thì quyền lợi của bên nhận giải quyết theo pháp luật dân sự.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa tiền thuê rừng còn lại và tiền thuê đã nộp; chỉ tiền thuê còn lại mới được xác định để bồi thường.
  • Cho rằng mọi tài sản đầu tư đều được bồi thường, kể cả có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.
  • Nhầm cơ quan thành lập hội đồng định giá là cơ quan Kiểm lâm thay vì UBND cấp có thẩm quyền thu hồi rừng.

Giải thích

Điều 44 quy định việc bồi thường thiệt hại về rừng khi rừng bị thu hồi không đúng thẩm quyền hoặc không đúng đối tượng. Theo đó, UBND cấp có thẩm quyền thu hồi rừng phải thành lập hội đồng định giá để xác định hai khoản: (1) tiền thuê rừng còn lại mà chủ rừng đã nộp cho Nhà nước nhưng không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; (2) giá trị lâm sản tăng thêm, giá trị rừng sản xuất là rừng trồng, tài sản khác do chủ rừng đã đầu tư hợp pháp trên diện tích rừng được giao, được thuê mà tiền đầu tư không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước. Những giá trị này thuộc sở hữu của chủ rừng và được Nhà nước bồi thường theo pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Nếu rừng trồng đã được chuyển nhượng quyền sở hữu thì cũng được bồi thường theo quy định. Trường hợp rừng trồng đã được thế chấp, bảo lãnh hoặc góp vốn, quyền lợi của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhận thế chấp, nhận bảo lãnh hoặc nhận góp vốn được giải quyết theo pháp luật về dân sự.
Nguyên văn Điều 44. Bồi thường thiệt hại về rừng trong trường hợp thu hồi rừng được
giao, cho thuê không đúng thẩm quyền hoặc không đúng đối tượng 1. Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thu hồi rừng có trách nhiệm thành lập hội đồng định giá: a) Xác định tiền thuê rừng còn lại của chủ rừng trong tổng số tiền thuê r ừng chủ rừng đã nộp cho Nhà nước mà số tiền đã nộp không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; 40 CÔNG BÁO/Số 1079 + 1080/Ngày 05-12-2018 b) Xác định giá trị lâm sản tăng thêm, giá trị rừng sản xuất là rừng trồng, tài sản khác do chủ rừng đã đầu tư hợp pháp trên diện tích rừng được giao, được thuê mà tiền đầu tư đó không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước. 2. Tiền thuê rừng còn lại và giá trị lâm sản tăng thêm, giá trị rừng sản xuất là rừng trồng, tài sản khác do chủ rừng đã đầu tư hợp pháp quy định tại khoản 1 Điều này thuộc sở hữu của chủ rừng được Nhà nước bồi thường theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. 3. Trường hợp thu hồi rừng mà rừng đó đã chuyển nhượng quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng thì được bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điề u này. 4. Trường hợp thu hồi rừng mà chủ rừng bị thu hồi rừng đã thế chấp, bảo lãnh hoặc góp vốn bằng giá trị rừng sản xuất là rừng trồng thì quyền lợi của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhận thế chấp, nhận bảo lãnh hoặc nhận góp vốn bằng giá trị rừng sản xuất là rừng trồng được giải quyết theo quy định c ủa pháp luật về dân sự.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.