Bài học
41/2024/QH15
Điều 46. Dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau khi ốm đau
Căn cứ: Điều 46, 41/2024/QH15 — Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15
Tóm tắt
Điều 46 quy định điều kiện, thời gian tối đa, thẩm quyền quyết định và mức hưởng trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau. Thời gian nghỉ tối đa trong năm phụ thuộc tình trạng sức khỏe và loại bệnh.
Ý chính cần nhớ
- ▸Điều kiện: đã nghỉ hưởng chế độ ốm đau từ đủ 30 ngày trở lên trong một năm; trong 30 ngày kể từ ngày hết thời gian nghỉ ốm mà sức khỏe chưa phục hồi.
- ▸Thời gian nghỉ dưỡng sức tối đa 10 ngày trong một năm (từ 01/01 đến 31/12).
- ▸Thời gian nghỉ liên tục bao gồm cả ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ hằng tuần.
- ▸Nếu thời gian nghỉ chuyển tiếp từ cuối năm trước sang đầu năm sau thì tính cho năm trước.
- ▸Người sử dụng lao động và Ban Chấp hành công đoàn cơ sở quyết định; nếu khác ý kiến thì người sử dụng lao động quyết định trên cơ sở đề nghị của công đoàn; nơi chưa có công đoàn thì người sử dụng lao động quyết định.
- ▸Thời gian tối đa cụ thể: 10 ngày nếu ốm đau do bệnh cần chữa trị dài ngày; 07 ngày nếu sau phẫu thuật; 05 ngày cho trường hợp khác.
- ▸Mức hưởng một ngày bằng 30% mức tham chiếu.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm thời gian tối đa 10 ngày/năm với các mức 10, 07, 05 ngày theo tình trạng sức khỏe.
- Nhầm thẩm quyền quyết định khi có ý kiến khác nhau giữa người sử dụng lao động và công đoàn cơ sở.
- Nhầm mức hưởng 30% mức tham chiếu với các tỷ lệ trợ cấp ốm đau.
Giải thích
Điều 46 Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 quy định chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau. Người lao động đã nghỉ hưởng chế độ ốm đau từ đủ 30 ngày trở lên trong một năm, trong 30 ngày kể từ ngày hết thời gian nghỉ ốm mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ tối đa 10 ngày trong năm (01/01 – 31/12). Thời gian nghỉ liên tục gồm cả ngày lễ, tết, ngày nghỉ hằng tuần. Thời gian nghỉ do người sử dụng lao động và Ban Chấp hành công đoàn cơ sở quyết định; nếu có ý kiến khác nhau, người sử dụng lao động quyết định trên cơ sở đề nghị của công đoàn cơ sở; nơi chưa có công đoàn cơ sở thì người sử dụng lao động quyết định. Thời gian tối đa: 10 ngày với bệnh cần chữa trị dài ngày; 07 ngày sau phẫu thuật; 05 ngày cho trường hợp khác. Mức hưởng một ngày bằng 30% mức tham chiếu.
Nguyên văn Điều 46. Dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau khi ốm đau
1. Người lao động đã nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau từ đủ 30 ngày trở lên
trong một năm, trong khoảng thời gian 30 ngày kể từ ngày hết thời gian nghỉ việc
36 CÔNG BÁO/Số 987 + 988/Ngày 25-8-2024
hưởng chế độ ốm đau mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi
sức khỏe tối đa 10 ngày trong một năm (từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng 12).
Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe liên tục bao gồm cả ngày nghỉ lễ,
tết, ngày nghỉ hằng tuần. Người lao động đủ điều kiện nghỉ dưỡng sức, phục hồi
sức khỏe trong năm nào thì thời gian nghỉ việc hưởng dưỡng sức, phục hồi sức
khỏe được tính cho năm đó. Trường hợp có thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức
khỏe từ cuối năm trước chuyển tiếp sang đầu năm sau thì thời gian nghỉ đó được
tính cho năm trước.
2. Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe do người sử dụng lao động và
Ban Chấp hành công đoàn cơ sở quyết định; trường hợp hai bên có ý kiến khác
nhau thì người sử dụng lao động quyết định số ngày nghỉ trên cơ sở đề nghị của
Ban Chấp hành công đoàn cơ sở, trường hợp đơn vị sử dụng lao động chưa có
công đoàn cơ sở thì do người sử dụng lao động quyết định. Thời gian nghỉ dưỡng
sức phục hồi sức khỏe tối đa được quy định như sau:
a) 10 ngày đối với người lao động sức khỏe chưa phục hồi sau thời gian ốm
đau do mắc bệnh cần chữa trị dài ngày;
b) 07 ngày đối với người lao động sức khỏe chưa phục hồi sau thời gian ốm
đau do phải phẫu thuật;
c) 05 ngày đối với trường hợp khác.
3. Mức hưởng cho một ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi ốm
đau bằng 30% mức tham chiếu.
4. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định về việc tính, việc
xác định điều kiện đối với từng trường hợp nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau
khi ốm đau.
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.