Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 5/2007/QH12

Điều 47. Nhiệm vụ của cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá

Căn cứ: Điều 47, 5/2007/QH12 — Luật 05/2007/QH12 LUẬT CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HOÁ

Tóm tắt

Điều 47 quy định chín nhiệm vụ của cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá. Các nhiệm vụ bao gồm xác định chủng loại hàng hoá, xây dựng kế hoạch kiểm tra, tiếp nhận hồ sơ, xác nhận điều kiện bảo đảm chất lượng, xây dựng đội ngũ kiểm soát viên, ra quyết định xử lý trong thời hạn 3 ngày làm việc, bảo đảm khách quan, bảo mật và chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Xác định chủng loại hàng hoá cụ thể để tiến hành kiểm tra chất lượng.
  • ▸Xây dựng kế hoạch kiểm tra hằng năm trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định.
  • ▸Tiếp nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra chất lượng của người nhập khẩu.
  • ▸Xác nhận điều kiện bảo đảm chất lượng đối với hàng hoá nhập khẩu.
  • ▸Lập và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc xây dựng đội ngũ kiểm soát viên chất lượng, trang bị phương tiện kỹ thuật.
  • ▸Ra quyết định xử lý trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận báo cáo của đoàn kiểm tra hoặc kiểm soát viên chất lượng về việc tạm đình chỉ sản xuất, niêm phong, tạm dừng bán hàng.
  • ▸Bảo đảm khách quan, chính xác, công khai, minh bạch và không phân biệt đối xử trong hoạt động kiểm tra.
  • ▸Bảo mật kết quả kiểm tra khi chưa có kết luận chính thức và thông tin, tài liệu liên quan đến tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh được kiểm tra.
  • ▸Chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm tra và các kết luận liên quan.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn thời hạn ra quyết định xử lý là 3 ngày làm việc (không phải 3 ngày hay 5 ngày làm việc).
  • Cho rằng cơ quan kiểm tra không phải bảo mật kết quả kiểm tra khi chưa có kết luận chính thức.

Giải thích

Điều 47 quy định nhiệm vụ của cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá. Cơ quan phải xác định chủng loại hàng hoá cụ thể để kiểm tra; xây dựng kế hoạch kiểm tra hằng năm trình cơ quan có thẩm quyền; tiếp nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra của người nhập khẩu; xác nhận điều kiện bảo đảm chất lượng đối với hàng hoá nhập khẩu; lập và trình cơ quan có thẩm quyền quyết định xây dựng đội ngũ kiểm soát viên, trang bị phương tiện kỹ thuật. Đặc biệt, cơ quan phải ra quyết định xử lý trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận báo cáo của đoàn kiểm tra hoặc kiểm soát viên về việc tạm đình chỉ sản xuất, niêm phong, tạm dừng bán hàng. Ngoài ra, cơ quan phải bảo đảm khách quan, chính xác, công khai, minh bạch, không phân biệt đối xử; bảo mật kết quả kiểm tra khi chưa có kết luận chính thức và thông tin liên quan; chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm tra.
Nguyên văn Điều 47. Nhiệm vụ của cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá có nhiệm vụ sau đây: 1. Xác định chủng loại hàng hoá cụ thể để tiến hành kiểm tra chất lượng; 2. Xây dựng kế hoạch kiểm tra hằng năm trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định; 3. Tiếp nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra chất lượng của người nhập khẩu; 4. Xác nhận điều kiện bảo đảm chất lượng đối với hàng hoá nhập khẩu; 5. Lập và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc xây dựng đội ngũ kiểm soát viên chất lượng, trang bị phương tiện kỹ thuật đáp ứng yêu cầu kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá; 6. Ra quyết định xử lý trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo của đoàn kiểm tra hoặc kiểm soát viên chất lượng về việc tạm đình chỉ sản xuất, niêm phong, tạm dừng bán hàng; 7. Bảo đảm khách quan, chính xác, công khai, minh bạch và không phân biệt đối xử trong hoạt động kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá; 8. Bảo mật kết quả kiểm tra khi chưa có kết luận chính thức và thông tin, tài liệu liên quan đến tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh được kiểm tra; 9. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm tra và các kết luận liên quan.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.