Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 216/2025/NĐ-CP

Điều 48. Căn cứ thanh tra lại

Căn cứ: Điều 48, 216/2025/NĐ-CP — Nghị định 216/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Luật Thanh tra

Tóm tắt

Điều 48 quy định 5 căn cứ để tiến hành thanh tra lại theo khoản 1 Điều 25 Luật Thanh tra. Các căn cứ bao gồm vi phạm thẩm quyền, trình tự thủ tục nghiêm trọng; sai lầm áp dụng pháp luật; kết luận không phù hợp chứng cứ; hành vi cố ý làm sai lệch hồ sơ; và phát hiện dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng chưa được phát hiện đầy đủ.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Căn cứ 1: Ban hành quyết định thanh tra trái thẩm quyền; hoặc vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục dẫn đến sai lệch nội dung kết luận (không xây dựng đề cương, không thu thập thông tin, không kiểm tra xác minh, không có báo cáo kết quả).
  • ▸Căn cứ 2: Sai lầm trong áp dụng pháp luật khi kết luận (áp dụng không đúng quy định hoặc văn bản đã hết hiệu lực) dẫn đến sai lệch nội dung kết luận.
  • ▸Căn cứ 3: Nội dung kết luận không phù hợp với chứng cứ thu thập được, dẫn đến đánh giá không đúng, tăng nặng, giảm nhẹ hoặc bỏ lọt vi phạm; hoặc kiến nghị xử lý không phù hợp tính chất, mức độ vi phạm.
  • ▸Căn cứ 4: Người tiến hành thanh tra cố ý thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, hủy hoặc làm hư hỏng thông tin, tài liệu, chứng cứ hoặc dùng thủ đoạn khác làm sai lệch hồ sơ hoặc cố ý kết luận trái pháp luật.
  • ▸Căn cứ 5: Cơ quan thanh tra cấp trên hoặc cơ quan có thẩm quyền phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng của đối tượng thanh tra nhưng chưa được phát hiện đầy đủ qua thanh tra trước đó.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa 'vi phạm nghiêm trọng về trình tự, thủ tục' với các vi phạm thông thường; chỉ những vi phạm dẫn đến sai lệch nội dung kết luận mới là căn cứ.
  • Cho rằng mọi sai lầm áp dụng pháp luật đều là căn cứ; thực tế phải dẫn đến sai lệch nội dung kết luận.
  • Bỏ sót căn cứ 5 vì tưởng chỉ áp dụng khi có vi phạm đã được kết luận, nhưng thực tế chỉ cần có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng chưa được phát hiện đầy đủ.

Giải thích

Điều 48 liệt kê 5 căn cứ để thanh tra lại một cuộc thanh tra đã kết thúc. Thứ nhất, quyết định thanh tra ban hành trái thẩm quyền hoặc có vi phạm nghiêm trọng về trình tự, thủ tục như không xây dựng đề cương, không thu thập thông tin, không kiểm tra xác minh, không có báo cáo kết quả dẫn đến sai lệch nội dung kết luận. Thứ hai, sai lầm trong áp dụng pháp luật như áp dụng không đúng hoặc dùng văn bản đã hết hiệu lực dẫn đến sai lệch kết luận. Thứ ba, nội dung kết luận không phù hợp với chứng cứ thu thập được, gây đánh giá sai, tăng nặng, giảm nhẹ hoặc bỏ lọt vi phạm, hoặc kiến nghị xử lý không tương xứng. Thứ tư, người tiến hành thanh tra cố ý làm sai lệch hồ sơ như thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, hủy, làm hư hỏng tài liệu hoặc cố ý kết luận trái pháp luật. Thứ năm, cơ quan thanh tra cấp trên hoặc cơ quan có thẩm quyền phát hiện dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng của đối tượng thanh tra nhưng chưa được phát hiện đầy đủ trong cuộc thanh tra trước. Những căn cứ này bảo đảm tính đúng đắn, khách quan của hoạt động thanh tra.
Nguyên văn Điều 48. Căn cứ thanh tra lại
Căn cứ thanh tra lại theo quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật Thanh tra, cụ thể như sau: 1. Ban hành quyết định thanh tra trái thẩm quyền; có vi phạm nghiêm trọng về trình tự, thủ tục trong quá trình tiến hành thanh tra dẫn đến sai lệch về nội dung của kết luận thanh tra bao gồm: không xây dựng và gửi đề cương yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo; không thu thập thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra; không kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu; không có báo cáo kết quả thanh tra của Đoàn thanh tra. 2. Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật khi kết luận thanh tra bao gồm: áp dụng không đúng quy định pháp luật hoặc áp dụng văn bản pháp luật đã hết hiệu lực dẫn đến sai lệch về nội dung của kết luận thanh tra. 3. Nội dung trong kết luận thanh tra không phù hợp với những chứng cứ thu thập được trong quá trình tiến hành thanh tra dẫn đến việc đánh giá không đúng, tăng nặng, giảm nhẹ hoặc bỏ lọt hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng thanh tra hoặc kiến nghị xử lý không phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm đã được phát hiện. 4. Người tiến hành thanh tra cố ý thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, hủy hoặc làm hư hỏng các thông tin, tài liệu, chứng cứ của cuộc thanh tra hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm làm sai lệch nội dung hồ sơ vụ việc hoặc cố ý kết luận trái pháp luật. 5. Cơ quan thanh tra cấp trên hoặc cơ quan có thẩm quyền phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng của đối tượng thanh tra nhưng chưa được phát hiện đầy đủ qua thanh tra theo nội dung ghi trong quyết định thanh tra, kế hoạch tiến hành thanh tra của Đoàn thanh tra trước đó.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.