Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 5/2007/QH12

Điều 49. Nhiệm vụ, quyền hạn của đoàn kiểm tra

Căn cứ: Điều 49, 5/2007/QH12 — Luật 05/2007/QH12 LUẬT CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HOÁ

Tóm tắt

Điều 49 quy định đoàn kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá có các nhiệm vụ, quyền hạn từ yêu cầu xuất trình tài liệu, lấy mẫu thử nghiệm, niêm phong hàng hoá, tạm dừng bán hàng không phù hợp, yêu cầu khắc phục sửa chữa, kiến nghị xử lý, đến bảo đảm nguyên tắc khách quan, bảo mật, báo cáo và chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Yêu cầu tổ chức, cá nhân xuất trình tài liệu liên quan và xử lý vi phạm theo Điều 27, 30, 40; có thể yêu cầu bản sao tài liệu.
  • ▸Lấy mẫu để thử nghiệm khi cần thiết.
  • ▸Niêm phong hàng hóa, tạm dừng bán hàng hoá không phù hợp trong quá trình kiểm tra trên thị trường.
  • ▸Yêu cầu tổ chức, cá nhân có sản phẩm, hàng hoá không phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng có biện pháp khắc phục, sửa chữa.
  • ▸Kiến nghị cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá xử lý theo thẩm quyền quy định tại Điều 46.
  • ▸Bảo đảm nguyên tắc khách quan, chính xác, không phân biệt đối xử; bảo mật kết quả và thông tin liên quan.
  • ▸Báo cáo chính xác, kịp thời kết quả kiểm tra cho cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá; chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm tra, kết luận và xử lý vi phạm.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa quyền “niêm phong hàng hóa, tạm dừng bán hàng hoá” của đoàn kiểm tra với quyền hạn tương tự của kiểm soát viên chất lượng.
  • Cho rằng đoàn kiểm tra được tự mình xử lý vi phạm theo thẩm quyền mà không cần kiến nghị cơ quan kiểm tra.
  • Bỏ sót yêu cầu bảo mật thông tin và chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Giải thích

Điều 49 liệt kê 9 nhiệm vụ, quyền hạn của đoàn kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá. Đoàn kiểm tra được yêu cầu tổ chức, cá nhân xuất trình tài liệu liên quan theo nội dung kiểm tra tại Điều 27 và xử lý vi phạm theo Điều 30, 40; khi cần thiết có thể yêu cầu bản sao tài liệu. Đoàn được lấy mẫu thử nghiệm, niêm phong hàng hóa, tạm dừng bán hàng hoá không phù hợp trên thị trường, yêu cầu khắc phục sửa chữa sản phẩm, hàng hoá không phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng. Đoàn cũng có quyền kiến nghị cơ quan kiểm tra xử lý theo thẩm quyền tại Điều 46. Đồng thời, đoàn phải bảo đảm nguyên tắc khách quan, chính xác, không phân biệt đối xử; bảo mật kết quả kiểm tra và thông tin liên quan; báo cáo chính xác, kịp thời và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm tra, kết luận, xử lý vi phạm của mình.
Nguyên văn Điều 49. Nhiệm vụ, quyền hạn của đoàn kiểm tra
Trong quá trình kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá, đoàn kiểm tra có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: 1. Yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh xuất trình các tài liệu liên quan đến sản phẩm, hàng hoá theo nội dung kiểm tra quy định tại Điều 27 và xử lý vi phạm trong quá trình kiểm tra theo quy định tại Điều 30 và Điều 40 của Luật này; khi cần thiết, yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh cung cấp bản sao các tài liệu quy định tại khoản này; 2. Lấy mẫu để thử nghiệm khi cần thiết; 3. Niêm phong hàng hóa, tạm dừng bán hàng hoá không phù hợp trong quá trình kiểm tra trên thị trường; 4. Yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hoá không phù hợp với tiêu chuẩn đã công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng có biện pháp khắc phục, sửa chữa; 5. Kiến nghị cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá xử lý theo thẩm quyền quy định tại Điều 46 của Luật này. 6. Bảo đảm nguyên tắc khách quan, chính xác và không phân biệt đối xử khi tiến hành kiểm tra; 7. Bảo mật kết quả kiểm tra và các thông tin liên quan đến tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh được kiểm tra; 8. Báo cáo chính xác và kịp thời kết quả kiểm tra cho cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá; 9. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm tra, kết luận và xử lý vi phạm của mình.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.