Nguyên văn Điều 5. Điều khoản chuyển tiếp
1. Tổ chức, cá nhân đã nộp hồ sơ và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
tiếp nhận để giải quyết thủ tục hành chính về địa chất, khoáng sản trước ngày
Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng chưa có kết quả giải quyết hồ sơ được
quyền lựa chọn áp dụng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của pháp
luật tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ hoặc theo quy định của Nghị định này.
2. Đối với giấy phép khai thác khoáng sản được cấp trước ngày Nghị định
này có hiệu lực thi hành mà có quy định nội dung chế biến khoáng sản, mục
đích sử dụng, tiêu thụ khoáng sản nhưng không phù hợp với điều kiện thực tế
thì cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền được điều chỉnh giấy phép khai
thác khoáng sản đối với nội dung chế biến khoáng sản, mục đích sử dụng, tiêu
thụ khoáng sản theo đề nghị của tổ chức, cá nhân có giấy phép khai thác khoáng
sản. Trình tự, thủ tục điều chỉnh giấy phép khai thác khoáng sản được thực hiện
như trường hợp thay đổi, bổ sung phương pháp khai thác quy định Nghị định
số 193/2025/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định này.
Hồ sơ đề nghị điều chỉnh giấy phép khai thác khoáng sản bao gồm:
a) Văn bản đề nghị điều chỉnh giấy phép khai thác khoáng sản (bản chính);
b) Phương án chế biến, sử dụng, tiêu thụ khoáng sản và so sánh với phương
án theo giấy phép khai thác khoáng sản đã cấp (bản chính).
c) Các văn bản, tài liệu tương ứng trong trường hợp kết hợp với gia hạn
giấy phép hoặc điều chỉnh nội dung khác của giấy phép khai thác khoáng sản.
3. Trường hợp tổ chức, cá nhân đang sử dụng thiết bị cân để xác định sản
lượng khai thác khoáng sản đối với giấy phép khai thác khoáng sản được cấp
trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành mà có quy định công suất khai
thác tính theo đơn vị thể tích thì được tiếp tục sử dụng thiết bị cân hoặc chuyển
đổi sang thiết bị đo đạc.
4. Trường hợp giấy phép khai thác khoáng sản, giấy xác nhận đăng ký thu
hồi khoáng sản, văn bản chấp thuận, cho phép khai thác, thu hồi khoáng sản
cấp trước ngày Luật Địa chất và khoáng sản có hiệu lực thi hành mà chưa thực
hiện việc quyết toán tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo quy định tại điểm
d khoản 1 Điều 139 của Nghị định số 193/2025/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung
một số điều theo Nghị định này nhưng được cơ quan nhà nước, người có thẩm
quyền cho phép gia hạn, điều chỉnh, cấp lại, cấp đổi giấy phép khai thác khoáng
sản, giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản, văn bản chấp thuận, cho phép
khai thác, thu hồi khoáng sản, chuyển nhượng quyền khai thác khoáng sản, khai
thác tận thu khoáng sản thì thực hiện quyết toán lần đầu và phê duyệt lại tiền
cấp quyền khai thác khoáng sản tại thời điểm được gia hạn, điều chỉnh, cấp lại,
cấp đổi giấy phép khai thác khoáng sản, giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng
sản, văn bản chấp thuận, cho phép khai thác, thu hồi khoáng sản, chuyển
nhượng quyền khai thác khoáng sản, khai thác tận thu khoáng sản.
5. Đối với quyết định phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền
trúng đấu giá quyền khai thác khoáng sản ban hành trước thời điểm Nghị định
số 193/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành nhưng chưa được cấp giấy phép khai
thác khoáng sản thì tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được xác định, phê
duyệt theo quy định của Nghị định số 193/2025/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung
một số điều theo Nghị định này.
6. Đối với các khu vực khoáng sản đang thực hiện quy trình đấu giá quyền
khai thác khoáng sản mà đã tiếp nhận hồ sơ tham gia đấu giá quyền khai thác
khoáng sản, thành phần hồ sơ tham gia đấu giá được thực hiện theo quy định
tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ.
7. Đối với giấy phép khai thác khoáng sản đã được cấp trước ngày Nghị
định này có hiệu lực thi hành mà trong quá trình thi công các hạng mục công
trình khai thác theo thiết kế mỏ đã được phê duyệt, trường hợp gặp các khối tài
nguyên nằm trong ranh giới khu vực được phép khai thác mà bắt buộc phải khai
đào, bốc xúc mới thi công được công trình khai thác mỏ thì tổ chức, cá nhân có
giấy phép khai thác khoáng sản có trách nhiệm vận chuyển và tập kết tại bãi
chứa hoặc kho chứa trong phạm vi dự án khai thác khoáng sản. Trường hợp có
nhu cầu sử dụng khoáng sản thì được thực hiện như sau:
a) Tổ chức, cá nhân có bản đăng ký thu hồi khoáng sản gửi về cơ quan
tiếp nhận hồ sơ do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân công. Bản đăng ký
thu hồi bao gồm các nội dung chính sau: Khối lượng, loại khoáng sản đã được
khai đào, bốc xúc tại khối tài nguyên; các bản vẽ có liên quan; mục đích sử
dụng; tiến độ, thời gian thực hiện hoạt động khai đào, bốc xúc khoáng sản tại
khối tài nguyên;
b) Trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản
đăng ký thu hồi khoáng sản của tổ chức, cá nhân đề nghị sử dụng khoáng sản,
cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức
xem xét, kiểm tra thực địa (trong trường hợp cần thiết) và trình Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cấp giấy xác nhận đăng ký thu hồi
khoáng sản;
c) Trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ
sơ trình của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc cấp giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng
sản. Trong trường hợp không cấp giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản thì
phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do;
d) Trong thời hạn không quá 01 ngày làm việc, kể từ ngày Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản, cơ quan
tiếp nhận hồ sơ thông báo cho tổ chức, cá nhân đề nghị sử dụng khoáng sản để
nhận kết quả và thực hiện các nghĩa vụ có liên quan theo quy định.
8. Hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký thu hồi khoáng sản đối với trường hợp
quy định tại khoản 9 Điều 4 của Luật số 147/2025/QH15 được thực hiện như sau:
a) Tổ chức, cá nhân có bản đăng ký thu hồi khoáng sản gửi về cơ quan
tiếp nhận hồ sơ do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân công. Bản đăng ký
thu hồi khoáng sản bao gồm các nội dung chính sau: Khối lượng, loại khoáng
sản đã được lưu giữ hoặc tập kết tại các kho chứa, bãi chứa; mục đích sử dụng;
tiến độ, thời gian sử dụng;
b) Trình tự, thủ tục đăng ký thu hồi khoáng sản được thực hiện theo quy
định tại các điểm b, c và d khoản 7 Điều này.
9. Trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, các trường hợp đã có kết
quả thăm dò khoáng sản được công nhận nhưng chưa được cấp giấy phép khai
thác khoáng sản hoặc đã có báo cáo kết quả thăm dò bổ sung nhưng chưa được
cấp hoặc điều chỉnh giấy phép khai thác khoáng sản mà kết quả thăm dò, thăm
dò bổ sung xác định khoáng sản đi kèm thuộc nhóm I, nhóm II hoặc nhóm III có
trữ lượng lớn hơn quy mô tài nguyên, trữ lượng khoáng sản đi kèm quy định tại
Phụ lục VI của Nghị định này thì khoáng sản đi kèm được xác định là khoáng
sản chính (trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 148 của Nghị định số
193/2025/NĐ-CP). Việc cấp, điều chỉnh giấy phép khai thác khoáng sản được
thực hiện như sau:
a) Đối với khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản, việc cấp,
điều chỉnh giấy phép khai thác được thực hiện theo quy định của Nghị định số
193/2025/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định này;
b) Đối với khu vực đấu giá quyền khai thác khoáng sản, tổ chức, cá nhân
thực hiện thủ tục đề nghị cấp, điều chỉnh giấy phép khai thác khoáng sản đối
với khoáng sản đưa ra đấu giá và khoáng sản đi kèm đã được xác định là khoáng
sản chính. Tỷ lệ thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đối với khoáng sản đi
kèm được xác định là khoáng sản chính thực hiện theo quy định tại khoản 2
Điều 148 của Nghị định số 193/2025/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Nghị định này;
c) Đối với khu vực đấu giá quyền khai thác khoáng sản mà tổ chức, cá
nhân không đề nghị cấp, điều chỉnh giấy phép khai thác khoáng sản đối với
khoáng sản đi kèm đã được xác định là khoáng sản chính, thì việc cấp, điều
chỉnh giấy phép khai thác khoáng sản chỉ được áp dụng đối với khoáng sản đưa
ra đấu giá và khoáng sản đi kèm (không vượt quá quy mô tài nguyên, trữ lượng
khoáng sản đi kèm quy định tại Phụ lục VI của Nghị định này) và không được
khai thác phần trữ lượng khoáng sản đi kèm vượt quy mô tài nguyên, trữ lượng
khoáng sản đi kèm quy định tại Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định này;
d) Hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp, điều chỉnh giấy phép khai thác khoáng sản
đối với trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản này được thực hiện
theo quy định của Nghị định số 193/2025/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Nghị định này.
10. Đối với giấy phép thăm dò khoáng sản, giấy phép khai thác khoáng sản
nhóm II do Bộ Nông nghiệp và Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường trước
đây) cấp trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành mà khu vực được cấp
giấy phép nằm trên địa bàn từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên thì tổ chức,
cá nhân thực hiện thủ tục hành chính tại địa phương nơi có diện tích khu vực
thăm dò khoáng sản, khai thác khoáng sản chiếm tỷ lệ diện tích lớn nhất (trừ
trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 111 của Luật Địa chất và khoáng sản mà
tổ chức, cá nhân lựa chọn tiếp tục thực hiện thủ tục hành chính tại Bộ Nông
nghiệp và Môi trường). Trình tự, thủ tục, hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính
được thực hiện theo quy định của Nghị định số 193/2025/NĐ-CP được sửa đổi,
bổ sung một số điều theo Nghị định này. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi tổ chức,
cá nhân thực hiện thủ tục hành chính có trách nhiệm lấy ý kiến của Ủy ban nhân
dân các tỉnh có diện tích địa giới hành chính thuộc diện tích khu vực thăm dò
khoáng sản, khai thác khoáng sản trước khi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
quyết định các nội dung sau:
a) Công nhận kết quả thăm dò đối với khu vực đã được cấp giấy phép thăm
dò khoáng sản;
b) Gia hạn, cấp lại, điều chỉnh, thu hồi giấy phép thăm dò khoáng sản, chuyển
nhượng quyền thăm dò khoáng sản đối với giấy phép thăm dò đã được cấp;
c) Cấp, gia hạn, cấp lại, điều chỉnh, cấp đổi, thu hồi giấy phép khai thác
khoáng sản, chuyển nhượng quyền khai thác khoáng sản, đóng cửa mỏ khoáng
sản đối với giấy phép khai thác đã được cấp.