Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 92/2021/TT-BTC

Điều 5. Kê khai, nộp phí

Căn cứ: Điều 5, 92/2021/TT-BTC — Thông tư 92/2021/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí tuyển dụng, dự thi nâng ngạch, thăng hạng công chức, viên chức

Tóm tắt

Tổ chức thu phí phải gửi số tiền phí đã thu của tháng trước vào tài khoản phí chờ nộp ngân sách mở tại Kho bạc Nhà nước chậm nhất là ngày 05 hàng tháng. Việc kê khai, nộp phí và quyết toán năm thực hiện theo Luật Quản lý thuế và Nghị định 126/2020/NĐ-CP.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Thời hạn gửi tiền phí đã thu của tháng trước vào tài khoản phí chờ nộp ngân sách: chậm nhất ngày 05 hàng tháng.
  • ▸Tài khoản phí chờ nộp ngân sách mở tại Kho bạc Nhà nước.
  • ▸Kê khai, nộp phí theo tháng, quyết toán năm theo Luật Quản lý thuế và Nghị định 126/2020/NĐ-CP.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm thời hạn nộp phí là ngày 05 của tháng tiếp theo thay vì chậm nhất ngày 05 hàng tháng.
  • Bỏ qua yêu cầu quyết toán năm.

Giải thích

Điều 5 quy định trách nhiệm kê khai, nộp phí của tổ chức thu phí. Cụ thể, chậm nhất là ngày 05 hàng tháng, tổ chức thu phí phải gửi số tiền phí đã thu của tháng trước vào tài khoản phí chờ nộp ngân sách mở tại Kho bạc Nhà nước. Tổ chức thu phí thực hiện kê khai, nộp số tiền phí thu được theo tháng và quyết toán năm theo quy định của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 126/2020/NĐ-CP. Bài học giúp thí sinh nắm rõ thời hạn và thủ tục nộp phí.
Nguyên văn Điều 5. Kê khai, nộp phí
1. Chậm nhất là ngày 05 hàng tháng, tổ chức thu phí phải gửi số tiền phí đã thu của tháng trước vào tài khoản phí chờ nộp ngân sách mở tại Kho bạc Nhà nước. 2. Tổ chức thu phí thực hiện kê khai, nộp số tiền phí thu được theo tháng, quyết toán năm theo quy định tại Luật Quản lý thuế và Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số đi ều của Luật Quản lý thuế.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.