Điều 5. Xác định giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt
Căn cứ: Điều 5, 98/2020/NĐ-CP — Nghị định 98/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Tóm tắt
Điều 5 quy định căn cứ và thứ tự ưu tiên xác định giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Đối với hàng giả, giá trị được xác định theo giá thị trường của hàng hóa thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng, kỹ thuật, công dụng tại thời điểm, nơi phát hiện vi phạm. Nếu không thể áp dụng, người có thẩm quyền có thể tạm giữ tang vật và thành lập Hội đồng định giá.
Ý chính cần nhớ
- ▸Việc xác định giá trị tang vật, phương tiện dựa trên một trong các căn cứ theo thứ tự ưu tiên tại các điểm a, b, c khoản 2 Điều 60 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
- ▸Đối với hàng giả quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và e khoản 7 Điều 3 Nghị định 98/2020/NĐ-CP: giá của tang vật là giá thị trường của hàng hóa thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng, kỹ thuật, công dụng tại thời điểm, nơi phát hiện vi phạm.
- ▸Nếu không xác định được giá như trên thì xác định theo khoản 1 Điều 5.
- ▸Trường hợp không thể áp dụng các căn cứ tại khoản 1 và 2, người có thẩm quyền có thể ra quyết định tạm giữ tang vật và thành lập Hội đồng định giá theo khoản 3 Điều 60 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm lẫn thứ tự ưu tiên xác định giá trị tang vật (không phải lúc nào cũng ưu tiên giá thị trường của hàng thật).
- Cho rằng đối với mọi loại hàng giả đều áp dụng giá thị trường của hàng thật, trong khi chỉ áp dụng cho các điểm a, b, c, d, đ, e khoản 7 Điều 3.
- Bỏ qua bước thành lập Hội đồng định giá khi không thể áp dụng các căn cứ tại khoản 1 và 2.
Giải thích
Nguyên văn Điều 5. Xác định giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính làm căn
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.