Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 5/2007/QH12

Điều 51. Nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm soát viên chất lượng

Căn cứ: Điều 51, 5/2007/QH12 — Luật 05/2007/QH12 LUẬT CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HOÁ

Tóm tắt

Điều 51 quy định kiểm soát viên chất lượng có 8 nhiệm vụ, quyền hạn khi kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá, gồm yêu cầu xuất trình tài liệu, niêm phong/tạm dừng bán hàng không phù hợp, yêu cầu khắc phục sửa chữa, kiến nghị xử lý, bảo đảm nguyên tắc, bảo mật, báo cáo và chịu trách nhiệm pháp lý.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Yêu cầu tổ chức, cá nhân xuất trình tài liệu theo nội dung kiểm tra quy định tại khoản 2 Điều 27 và xử lý vi phạm theo Điều 40; có thể yêu cầu bản sao tài liệu.
  • ▸Niêm phong, tạm dừng bán hàng hoá không phù hợp trong quá trình kiểm tra trên thị trường.
  • ▸Yêu cầu tổ chức, cá nhân có sản phẩm, hàng hoá không phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng có biện pháp khắc phục, sửa chữa.
  • ▸Kiến nghị cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá xử lý theo thẩm quyền quy định tại Điều 46.
  • ▸Bảo đảm nguyên tắc khách quan, chính xác, không phân biệt đối xử; bảo mật kết quả và thông tin liên quan.
  • ▸Báo cáo chính xác, kịp thời kết quả kiểm tra cho cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá; chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm tra, kết luận và xử lý vi phạm.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm Điều 51 với Điều 49: kiểm soát viên không có quyền “lấy mẫu để thử nghiệm khi cần thiết” như đoàn kiểm tra.
  • Cho rằng kiểm soát viên được tự xử lý theo Điều 30 thay vì chỉ theo Điều 40.
  • Bỏ sót việc kiểm soát viên phải bảo mật và chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Giải thích

Điều 51 quy định 8 nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm soát viên chất lượng trong quá trình kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá. Kiểm soát viên được yêu cầu tổ chức, cá nhân xuất trình tài liệu theo nội dung kiểm tra quy định tại khoản 2 Điều 27 và xử lý vi phạm theo Điều 40; khi cần thiết có thể yêu cầu bản sao tài liệu. Kiểm soát viên có quyền niêm phong, tạm dừng bán hàng hoá không phù hợp trên thị trường; yêu cầu khắc phục, sửa chữa sản phẩm, hàng hoá không phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng; kiến nghị cơ quan kiểm tra xử lý theo thẩm quyền tại Điều 46. Kiểm soát viên phải bảo đảm nguyên tắc khách quan, chính xác, không phân biệt đối xử; bảo mật kết quả kiểm tra và thông tin liên quan; báo cáo chính xác, kịp thời; chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm tra, kết luận và xử lý vi phạm. Khác với đoàn kiểm tra, Điều 51 không quy định quyền “lấy mẫu để thử nghiệm”.
Nguyên văn Điều 51. Nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm soát viên chất lượng
Trong quá trình kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá, kiểm soát viên chất lượng có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: 1. Yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh xuất trình các tài liệu liên quan đến sản phẩm, hàng hoá theo nội dung kiểm tra quy định tại khoản 2 Điều 27 và xử lý vi phạm trong quá trình kiểm tra theo quy định tại Điều 40 của Luật này; khi cần thiết, yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh cung cấp bản sao các tài liệu quy định tại khoản này; 2. Niêm phong, tạm dừng bán hàng hoá không phù hợp trong quá trình kiểm tra trên thị trường; 3. Yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hoá không phù hợp với tiêu chuẩn đã công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng có biện pháp khắc phục, sửa chữa; 4. Kiến nghị cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá xử lý theo thẩm quyền quy định tại Điều 46 của Luật này; 5. Bảo đảm nguyên tắc khách quan, chính xác và không phân biệt đối xử khi tiến hành kiểm tra; 6. Bảo mật kết quả kiểm tra và các thông tin liên quan đến tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh được kiểm tra; 7. Báo cáo chính xác và kịp thời kết quả kiểm tra cho cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá; 8. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm tra, kết luận và xử lý vi phạm của mình.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.