Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 73/2026/NĐ-CP

Điều 52. Trách nhiệm thi hành

Căn cứ: Điều 52, 73/2026/NĐ-CP — Nghị định 73/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Ngân sách nhà nước

Tóm tắt

Điều 52 quy định trách nhiệm thi hành Nghị định 73/2026/NĐ-CP. Bộ trưởng Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thực hiện Nghị định. Bộ trưởng các bộ, Thủ trưởng cơ quan trung ương và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn và tổ chức thực hiện Nghị định.
  • ▸Bộ trưởng các bộ chịu trách nhiệm thi hành Nghị định.
  • ▸Thủ trưởng cơ quan trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định.
  • ▸Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm thi hành Nghị định.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn trách nhiệm hướng dẫn, tổ chức thực hiện chỉ thuộc về Bộ Tài chính, trong khi các đối tượng khác chỉ chịu trách nhiệm thi hành.
  • Cho rằng Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã cũng chịu trách nhiệm thi hành theo Điều này, nhưng Điều 52 chỉ nhắc đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố.

Giải thích

Điều 52 quy định trách nhiệm thi hành Nghị định 73/2026/NĐ-CP. Bộ trưởng Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thực hiện Nghị định. Bên cạnh đó, Bộ trưởng các bộ, Thủ trưởng các cơ quan trung ương và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có trách nhiệm thi hành Nghị định này. Điều này đảm bảo việc triển khai thống nhất và hiệu quả các quy định của Nghị định trong thực tiễn.
Nguyên văn Điều 52. Trách nhiệm thi hành
1. Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn và tổ chức thực hiện Nghị định này. 2. Bộ trưởng các bộ, Thủ trưởng các cơ quan trung ương và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.