Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 268/2025/NĐ-CP

Điều 53. Thu hồi, hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Căn cứ: Điều 53, 268/2025/NĐ-CP — Nghị định 268/2025/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về đổi mới sáng tạo; khuyến khích hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; công nhận trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; công nhận cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; hạ tầng, mạng lưới và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo

Tóm tắt

Điều 53 quy định việc kiểm tra định kỳ 03 năm một lần để duy trì hiệu lực Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ; các trường hợp thu hồi, hủy bỏ hiệu lực; hậu quả pháp lý và việc công khai quyết định.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Định kỳ 03 năm kể từ ngày cấp, cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, đánh giá việc chấp hành điều kiện tại Điều 49 để xem xét duy trì hiệu lực.
  • ▸Thu hồi Giấy chứng nhận khi: doanh nghiệp giải thể, phá sản, bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; không báo cáo 03 năm liên tiếp; không còn quyền sở hữu/sử dụng hợp pháp công nghệ, kết quả nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; không đảm bảo điều kiện tại Điều 49 trong 03 năm liên tiếp.
  • ▸Hủy bỏ hiệu lực khi: có hành vi xâm phạm quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng công nghệ, kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo đã kê khai; có hành vi giả mạo nội dung hồ sơ đề nghị chứng nhận.
  • ▸Bị thu hồi thì không tiếp tục được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ; bị hủy bỏ thì phải hoàn trả toàn bộ các khoản ưu đãi, hỗ trợ đã hưởng và bị xử lý theo pháp luật.
  • ▸Cơ quan có thẩm quyền có thể thành lập Hội đồng tư vấn để xem xét việc thu hồi hoặc hủy bỏ.
  • ▸Cơ quan có thẩm quyền công khai việc thu hồi, hủy bỏ trên cổng thông tin của cơ quan ít nhất 30 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Lưu ý dễ nhầm

  • Phân biệt rõ 'thu hồi' (khoản 2) với 'hủy bỏ hiệu lực' (khoản 3); hậu quả pháp lý khác nhau: thu hồi thì mất ưu đãi, hủy bỏ thì phải hoàn trả.
  • Thời hạn kiểm tra định kỳ là 03 năm kể từ ngày cấp, không phải 01 năm hay 05 năm.
  • Thời hạn công khai ít nhất 30 ngày kể từ ngày ra quyết định, không phải kể từ ngày có hiệu lực.

Giải thích

Điều 53 quy định cơ chế duy trì và chấm dứt hiệu lực Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Định kỳ 03 năm kể từ ngày cấp, cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, đánh giá việc chấp hành các điều kiện tại Điều 49 để xem xét duy trì hiệu lực. Có hai nhóm biện pháp: thu hồi và hủy bỏ hiệu lực. Thu hồi áp dụng khi doanh nghiệp giải thể, phá sản, bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; không báo cáo 03 năm liên tiếp; không còn quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp công nghệ, kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; hoặc không đảm bảo điều kiện tại Điều 49 trong 03 năm liên tiếp. Khi bị thu hồi, doanh nghiệp không tiếp tục được hưởng ưu đãi, hỗ trợ. Hủy bỏ hiệu lực áp dụng khi doanh nghiệp có hành vi xâm phạm quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng công nghệ, kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo đã kê khai hoặc có hành vi giả mạo nội dung hồ sơ đề nghị chứng nhận. Khi bị hủy bỏ, doanh nghiệp phải hoàn trả toàn bộ các khoản ưu đãi, hỗ trợ đã hưởng và bị xử lý theo quy định pháp luật. Cơ quan có thẩm quyền có thể thành lập Hội đồng tư vấn để xem xét và phải công khai việc thu hồi, hủy bỏ trên cổng thông tin của cơ quan ít nhất 30 ngày kể từ ngày ra quyết định.
Nguyên văn Điều 53. Thu hồi, hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa
học và công nghệ 1. Định kỳ 03 năm kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ, cơ quan có thẩm quyền tổ chức kiểm tra, đánh giá việc chấp hành các điều kiện quy định tại Điều 49 Nghị định này để xem xét việc duy trì hiệu lực Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ. 2. Cơ quan có thẩm quyền quy định tại Điều 48 Nghị định này thông báo cho doanh nghiệp và quyết định thu hồi Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong các trường hợp sau: a) Doanh nghiệp khoa học và công nghệ giải thể, phá sản, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; b) Doanh nghiệp khoa học và công nghệ không thực hiện chế độ báo cáo trong 03 năm liên tiếp theo quy định; c) Doanh nghiệp không còn quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp công nghệ, kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; d) Doanh nghiệp không đảm bảo các điều kiện quy định tại Điều 49 Nghị định này trong 03 năm liên tiếp. Trường hợp bị thu hồi Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp không tiếp tục được hưởng những chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ. 3. Cơ quan có thẩm quyền quyết định hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong các trường hợp sau: a) Có hành vi xâm phạm quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng công nghệ, kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo đã kê khai trong hồ sơ đề nghị chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ; b) Có các hành vi giả mạo nội dung hồ sơ đề nghị chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Trường hợp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ bị hủy bỏ hiệu lực, doanh nghiệp có trách nhiệm hoàn trả toàn bộ các khoản ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước dành cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ đã được hưởng và bị xử lý theo quy định của pháp luật. 4. Cơ quan có thẩm quyền có thể thành lập Hội đồng tư vấn để xem xét việc thu hồi hoặc hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ. 5. Cơ quan có thẩm quyền công khai việc thu hồi, hủy bỏ hiệu lực của Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ trên cổng thông tin của cơ quan trong thời hạn ít nhất 30 ngày kể từ ngày ra quyết định thu hồi, hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.