Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 20/2017/QH14

Điều 53. Tổ chức vay, trả nợ của chính quyền địa phương

Căn cứ: Điều 53, 20/2017/QH14 — Luật Quản lý nợ công số 20/2017/QH14

Tóm tắt

Điều 53 quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức vay theo các hình thức tại Điều 51, gồm phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, vay lại vốn ODA/ưu đãi nước ngoài, vay ngân quỹ nhà nước và vay từ nguồn tài chính khác trong nước. UBND cấp tỉnh cũng có trách nhiệm bố trí ngân sách địa phương hoặc nguồn vốn hợp pháp khác để trả nợ đầy đủ, đúng hạn.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức vay theo các hình thức quy định tại Điều 51 của Luật Quản lý nợ công số 20/2017/QH14.
  • ▸Phát hành trái phiếu chính quyền địa phương tại thị trường vốn trong nước: UBND cấp tỉnh lập Đề án phát hành trái phiếu, báo cáo Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phê duyệt và gửi lấy ý kiến chấp thuận của Bộ Tài chính về điều kiện, điều khoản của trái phiếu trước khi tổ chức phát hành.
  • ▸Vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài: thực hiện theo quy định tại Chương V của Luật Quản lý nợ công số 20/2017/QH14.
  • ▸Vay ngân quỹ nhà nước: UBND cấp tỉnh lập đề nghị vay vốn kèm theo các hồ sơ liên quan, gửi Bộ Tài chính quyết định.
  • ▸Vay từ các nguồn tài chính khác trong nước: UBND cấp tỉnh tổ chức đàm phán, ký kết thỏa thuận vay.
  • ▸Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bố trí ngân sách địa phương hoặc các nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật để trả nợ đầy đủ, đúng hạn.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn thẩm quyền phê duyệt Đề án phát hành trái phiếu: Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phê duyệt, còn Bộ Tài chính chỉ cho ý kiến chấp thuận về điều kiện, điều khoản của trái phiếu.
  • Nhầm lẫn giữa vay ngân quỹ nhà nước (Bộ Tài chính quyết định) và vay từ nguồn tài chính khác trong nước (UBND cấp tỉnh tự đàm phán, ký kết).

Giải thích

Điều 53 Luật Quản lý nợ công số 20/2017/QH14 quy định về tổ chức vay, trả nợ của chính quyền địa phương. Theo đó, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được tổ chức vay theo các hình thức quy định tại Điều 51 của Luật này. Cụ thể, khi phát hành trái phiếu chính quyền địa phương tại thị trường vốn trong nước, UBND cấp tỉnh phải lập Đề án phát hành trái phiếu, báo cáo Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phê duyệt và gửi lấy ý kiến chấp thuận của Bộ Tài chính về điều kiện, điều khoản của trái phiếu trước khi tổ chức phát hành. Đối với vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài, thực hiện theo Chương V của Luật. Đối với vay ngân quỹ nhà nước, UBND cấp tỉnh lập đề nghị vay vốn kèm hồ sơ liên quan gửi Bộ Tài chính quyết định. Đối với vay từ các nguồn tài chính khác trong nước, UBND cấp tỉnh tổ chức đàm phán, ký kết thỏa thuận vay. Ngoài ra, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí ngân sách địa phương hoặc các nguồn vốn hợp pháp khác để trả nợ đầy đủ, đúng hạn.
Nguyên văn Điều 53. Tổ chức vay, trả nợ của chính quyền địa phương
1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức vay theo các hình thức quy định t ại Điều 51 của Luật này và quy định sau đây: a) Đối với phát hành trái phiếu chính quyền địa phương tại thị trường vốn trong nước, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập Đề án phát hành trái phiếu, báo cáo Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phê duyệt và gửi lấy ý kiến chấp thuận của Bộ Tài chính về điều kiện, điều khoản của trái phiếu trước khi tổ chức phát hành; b) Đố i với vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện theo quy định tại Chương V của Luật này; 32 CÔNG BÁO/Số 1061 + 1062/Ngày 29-12-2017 c) Đối với vay ngân quỹ nhà nước, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập đề nghị vay vốn kèm theo các hồ sơ liên quan, gửi Bộ Tài chính quyết định; d) Đối với vay từ các nguồn tài chính khác trong nước, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức đàm phán, ký kết thỏa thuận vay. 2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bố trí ngân sách địa phương hoặc các nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật để trả nợ đầ y đủ, đúng hạn. 3. Chính phủ quy định chi tiết về quản lý nợ của chính quyền địa phương.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.