Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 60/2014/QH13

Điều 61. Nguyên tắc quản lý, khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch

Căn cứ: Điều 61, 60/2014/QH13 — Luật 60/2014/QH13 LUẬT HỘ TỊCH

Tóm tắt

Cơ sở dữ liệu hộ tịch được quản lý, bảo mật, bảo đảm an toàn; chỉ cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền mới được tiếp cận và khai thác. Cơ quan quản lý có trách nhiệm bảo đảm bí mật cá nhân.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Cơ sở dữ liệu hộ tịch được quản lý, bảo mật, bảo đảm an toàn.
  • ▸Chỉ cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền mới được tiếp cận và khai thác theo quy định của pháp luật.
  • ▸Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch có trách nhiệm bảo đảm bí mật cá nhân trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch.

Lưu ý dễ nhầm

  • Không phải mọi cá nhân đều được tiếp cận, khai thác; phải có thẩm quyền.
  • Trách nhiệm bảo mật thuộc cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch.

Giải thích

Điều 61 nêu nguyên tắc quản lý, khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch. Cơ sở dữ liệu hộ tịch được quản lý, bảo mật, bảo đảm an toàn; chỉ những cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền mới được tiếp cận và khai thác theo quy định của pháp luật. Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch có trách nhiệm bảo đảm bí mật cá nhân trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch. Quy định này nhằm bảo vệ thông tin cá nhân, đồng thời bảo đảm dữ liệu được sử dụng đúng mục đích, đúng thẩm quyền. Thí sinh cần nhớ hai nội dung: điều kiện tiếp cận, khai thác (có thẩm quyền) và nghĩa vụ bảo mật của cơ quan quản lý.
Nguyên văn Điều 61. Nguyên tắc quản lý, khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch
1. Cơ sở dữ liệu hộ tịch được quản lý, bảo mật, bảo đảm an toàn; chỉ những cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền mới được tiếp cận và khai thác theo quy định của pháp luật. 2. Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch có trách nhiệm bảo đảm bí mật cá nhân trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.